Giải nghĩa Thánh Kinh

Tựa “Phục Truyền Luật Lệ Ký” có từ đâu và nên là gì thì đúng?

Lê Anh Huy

TảiX

Sách Thứ Năm của Thánh Kinh có tên Íp-ri(Do-thái, Hê-bơ-rơ) דְּבָרִים đọc là devarim, có nghĩa là “lời.” Sở dĩ sách có tựa như vậy là vì người Íp-ri có tục dùng các chữ đầu của một cuốn sách để đặt tên cho nó. Vì cuốn sách Thứ Năm bắt đầu bởi Eleh ha-devarim (có nghĩa là “đây là các lời”), nên nó tựa là  “devarim.” Sách Thứ Năm được viết bởi Mô-se (trừ chương cuối) vào khoảng năm 1406 trước khi Đấng Cờ-rít giáng sanh.

Murder và manslay khác nhau như thế nào?

Lê Anh Huy

TảiX

1- Dẫn nhập: Xuất Ê-díp-tô ký (1925) chép: “Các ngươi chớ giết người” (20.13) hay “You shall not murder” (NASB), hay “Thou shall not kill” (KJ). Chữ “giết người” hay “muder” hay “kill” được dịch từ chữ Do-thái רצח (râtsach) /raw-tsakh/ có các từ tiếng Anh tương đương là: “put to death,” “kill,” “slay” hay “murder” (Tự điển Strong, Hebrew-English). Tất cả các từ tiếng Anh này đều có nghĩa là “chấm dứt mạng sống” nhưng mỗi chữ được áp dụng trong từng trường hợp khác nhau. “Put to death” và “kill” mang nghĩa tổng quát là “giết” hay “giết chết” hay “lấy mạng” và có thể áp dụng trong mọi trường hợp. Còn “murder” và “manslay” (hay “manslaughter”) được áp dụng trong hai trường hợp khác nhau. Sau đây là nghĩa của hai chữ này:

Tên của Đức Chúa TRỜI là gì?

Lê Anh Huy

1- Hai danh của Đức Chúa TrỜi:
Khi Đức Chúa TrỜi sai Mô-se về lại Ai-cập để đưa dân Ngài vào vùng hoang dã để thờ phượng Ngài, Mô-se hỏi Đức Chúa TrỜi cho ông biết Ngài là ai để khi dân Do thái hỏi, ông biết mà trả lời họ. Ngài bèn trả lời ông: “Ta là Đấng TA LÀ.” Ngài còn phán với ông: ”Như vy ngươi s nói vi nhng con trai Dích-ra-ên(Y-sơ-ra-ên): "TA LÀ đã sai ta ti các ngươi.'” (Xuất hành 3:14 - Thánh Kinh Tiêu Chuẩn). “Ta là Đấng TA LÀ” trong các phiên bản tiếng Anh là: “I am who I AM” đọc theo tiếng Do-thái là “‘ehyeh ‘ăser ‘ehyeh”.

Tít 3:10 – “Heretick” là “tà giáo” hay “bè đảng”?

Lê Anh Huy

1- Dẫn luận: 
Thánh Kinh bản dịch 1925 (thường được gọi là phiên bản “Phan Khôi” hay phiên bản “truyền thống”) có câu:
Sau khi mình đã khuyên bo k theo tà giáo mt hai ln ri, thì hãy lánh h” (Tít 3:10)
Chữ “tà giáo” theo nguyên ngữ Hy-lạp, là ngôn ngữ mà Thánh Kinh Tân Ước được viết, là αἱρετικός, viết theo mẫu tự ABC là aihretikos, được phiên âm thành /hahee-ret-ee-kos'/. Chữ này được ban dịch thuật phiên bản King James gọi là “Heretick” (hay “heretic”). Chữ tiếng Anh “heretic” có nghĩa là “người có quan điểm tôn giáo ngược lại với hội thánh mà người đó là hội viên” (http://dictionary.reference.com/browse/heretic). Như vậy, chữ “heretic” tương đương với chữ “tà giáo” của tiếng Việt. Trong bài này, chúng ta đi tìm hiểu nguồn gốc của chữ “tà giáo” này. 
Syndicate content