Đây không phải là một cuộc chiến mà nền văn hóa nầy đè bẹp nền văn hóa khác, hay nền văn hóa nầy phải chống lại sự xâm lấn của một nền văn hóa khác. Đây là một cuộc chiến văn hóa kinh khủng hơn thế, tàn khốc hơn thế, quằn quại hơn thế, và vẫn xẩy ra ngày đêm trong cá nhân tôi và nhiều người Việt Nam khác bên cạnh tôi trong các trại tỵ nạn quanh vùng Đông Berlin.
Trước khi đến nước Đức, tôi không hình dung được cuộc chiến nầy. Tôi phải ra đi để tránh sự nguy hiểm và để được nói lên một số sự thật của riêng mình, của quê hương mà tôi đã giữ im lặng từ lâu. Nếu không có nhu cầu sống với lương tâm, tôi có thể nịnh bợ và toa rập với chế độ cộng sản tại Việt Nam để phè phởn trên đau khổ của đồng bào mình. Nay đối mặt với cuộc chiến văn hóa nầy, tôi vẫn bằng lòng và cám ơn Chúa, Đấng đã dắt dẫn tôi từng bước đi qua những chặng đường khúc khuỷu.
Cuộc chiến nầy xẩy ra như thế nào?
Trước đây, tôi vốn là một tu sĩ Phật Giáo, được gọi là Đại Đức. Tôi được nhiều người tôn trọng vượt bực, nhưng lại từ bỏ địa vị tôn giáo ấy để trở lại đời thường. Thật ra tôi đã từng chiến đấu với chính mình để chọn lựa con đường tìm chân lý cam go hay con đường hưởng thụ địa vị cao trọng có sẵn trong tôn giáo. Khi bỏ áo tu, tôi chấp nhận cam go, mạo hiễm và tủi nhục, nhưng thú vị và danh dự. Nhờ đó, tôi không nuối tiếc địa vị và sự ưu đãi của tôn giáo nữa.
Khi chiến tranh chấm dứt, tôi hy vọng quá nhiều vào hòa bình, vì tin rằng người Việt Nam hiếu hòa bởi đã từng chịu đau khổ do chiến tranh, bất công, nghèo đói...Tiếng súng chấm dứt, ai cũng muốn tái thiết quê nhà để xây dựng cuộc sống cho mình và cho tương lai con cháu. Đó là niềm hy vọng bình thường của mọi người. Nhưng sau hơn 23 năm dưới chế độ mới, tôi thấy rõ là dân tộc tôi lại lún sâu vào những đau thương khác, những bất công, tàn bạo khác mà chắc chắn tương lai sẽ tệ hại hơn nhiều. Chiến tranh quân sự đã tàn phá nhà cửa xóm làng và gây nhiều chết chóc vẫn chưa nguy hại bằng sự tàn phá do ý thức hệ, chính trị, triết lý duy vật, chủ thuyết vô thần ngu dốt. Vũ khí làm chết người, người lại sinh ra liên tục. Vũ khí làm sập nhà, nhà vẫn được xây dựng cao hơn. Nhưng tư tưởng sai lạc, chính sách độc đoán, chủ nghĩa vô thần, sự tàn ác, dối trá, tính phi nhân, bất lương, vô lại... đã và đang tiêu diệt cuộc sống nhân bản ngay trong bào thai, hài nhi, tuổi thơ, thanh xuân và tuổi thành nhân cho đến tuổi già. Các thứ chủ nghĩa và văn hóa lừa mị bề ngoài chỉ để che giấu bản chất phi nhân vô độ bên trong. Chúng tàn phá đời sống tâm linh con người một cách tự nhiên và thầm lặng đến nỗi con người đã bị hư hỏng, bị lệch lạc kinh khủng mà vẫn không ý thức được. Kết quả hơn 1/3 thế kỷ “hòa bình thống nhất” trên đất Việt là hàng triệu người đã phải ra đi tìm cái sống trong cái chết. Ai còn sống sót đều phải trải qua cuộc chiến văn hóa trên nhiều nước để ổn định và hội nhập vào xã hội nước ngoài, cũng để quên quá khứ hận thù. Nhưng hiện nay có gần nửa triệu người Việt Nam khác đã và đang ra đi qua ngõ Đông Aâu. Đa số những người nầy đã từng đóng góp nhiều vào chế độ cộng sản. Nói đúng hơn, họ là con đẻ của chế độ ấy. Hầu hết, họ đã quen ăn trên ngồi tróc, đã quen tham ô nhũng lạm, đã quen mạnh được yếu thua và bạo lực cách mạng. Họ đã quen căm thù tự do tư bản, căm thù giai cấp giàu có. Họ đã quen sống vô kỷ luật và bắt nạt kẻ yếu, hoặc họ đã bị áp bức quá lâu trong vô thức. Tất cả những cái đó đã kết thành bản chất văn hóa trong mỗi con người của họ. Đây cũng là một nét đặc thù của cộng đồng người Việt ở Đông Berlin. Họ khó tiếp nhận bất cứ một nếp sống văn hóa nào khác ngoài những cái đã đúc nên nhân cách của họ. Thật ra, họ là những con người Việt Nam có tình cảm quê nhà, tình đồng bào đồng loại; họ nhớ quê hương và muốn kiếm tiền gởi về cho bà con giòng họ. Họ không quen suy nghĩ sâu xa tại sao họ phải ra đi như thế. Vì câu trả lời lúc nào cũng muốn đâm thủng vào nhận thức của họ vốn đã nhập tâm từ khi còn nhỏ, ấy là “chế độ tư bản xâm lăng Việt Nam. Chế độ tư bản gây ra nghèo khó cho Việt Nam. Chế độ tư bản đã cấm vận Việt Nam. Chế độ tư bản đã không cho phép Việt Nam tham gia kinh tế thị trường thế giới. Chế độ tư bản không được chủ nghĩa xã hội ưu việt chỉû đạo như Việt Nam. Đảng CSVN chưa vực đất nước lên được là vì sự di hại của đế quốc Pháp, Mỹ và chế độ tư bản....” Những lý luận đó không chỉ ở trên miệng họ thôi đâu, mà ở ngay trong tâm hồn của họ. Nhưng khi gặp người khác, họ nói ngược lại ý nghĩ của mình vì họ đã quen sống hai ba mặt khác nhau và không bao giờ họ nói thật với nhau dù là vợ chồng hay con cái. Đó là nguồn gốc của cuộc chiến tranh văn hóa trong người Việt Nam tại Đông Berlin hôm nay.
Ngày đầu tiên được đưa vào trại tỵ nạn Eissenhüttenstadt, tôi chạm phải những đôi mắt khinh bỉ của nhân viên xã hội Đức. Dù bị choáng váng, tôi vẫn bình tĩnh để tìm hiểu nguyên nhân. Tôi vốn có nhiều người bạn Đức rất tốt ở Tây Đức. Thành phố Eissenhütenstadt thuộc về Đông Đức. Có lẽ nhân viên xã hội ở đây là cán bộ cộng sản Đông Đức cũ. Sau một tuần sống trong trại với người Việt Nam, tôi thấy cách sống, cách ăn ở, cách cư xử, cách “tình cảm,” cách ngủ nghỉ, cách giải trí của đồng bào mình. Tôi nghĩ rằng mình còn may mắn, vì người Đức không chứng kiến hết những cái đó. Quả thật, những con mắt khinh miệt của cán bộ xã hội Đức không oan ức gì đối với đồng bào của tôi cả. Là một người Việt Nam với họ, tôi biết làm sao bây giờ! Lòng tôi đau từng ngày một. Càng đau tôi càng thui thủi một mình. Tôi bị khinh rẽ trước tất cả con mắt nhân loại trong trại nầy. Bị cán bộ Đức khinh, bị các sắc dân tỵ nạn khác khinh, và chính người Việt Nam cũng nghi ngờ và xa lánh tôi (vì tôi là một người Việt Nam không giống họ). 99,9% người Việt Nam ở đây không nói tiếng Anh, tiếng Đức, trừ tôi. Chừng đó thôi cũng đã đủ kẹt cho tôi rồi, vì anh em Việt Nam nghi tôi là gián điệp. Tôi như một con gà phải bơi với đàn vịt. Khi còn ở Việt Nam, tôi tin Chúa và bị họ hàng, bạn bè, chính quyền bắt bớ. Khi đã bán tất cả để được đoàn tụ gia đình, tôi bị “bà vợ” bên Hoa Kỳ bất ngờ huỷ bỏ đơn bảo lãnh. Khi trốn qua Đức, tôi bị đứa con trai duy nhất khước từ, vì nó nghe theo mẹ. Khi vào trại tỵ nạn, tôi vừa bị anh em Việt Nam nghi kỵ vừa bị ánh mắt của cán bộ xã hội Đức khinh bỉ. Nếu không có vợ con, nếu bị mù, bị câm điếc, thì chắc chắn tôi không có những nỗi khổ tâm nầy. Nhưng vì nỗi khổ nói trên, tôi đã cầu nguyện với Chúa. Sự cầu nguyện thật là lạ lùng. Vì khi nào nó cũng bắt đầu bởi sự yếu đuối của mình, nhưng luôn luôn kết thúc bởi sự mạnh mẽ của Chúa.
Trại nầy có khoảng 500 người tỵ nạn từ các nước khác đến. Tôi rất khổ tâm mỗi khi xếp hàng lãnh tiền túi, lãnh thức ăn với người Việt Nam và những người tỵ nạn khác, vì không mấy ai biết tôn trọng thứ tự ưu tiên. Người ta tìm đủ cách để lừa nhau, chen nhau giành ưu tiên. Người ta đánh nhau đổ máu chỉ vì muốn đứng trước dù đến sau. Người Đức có tinh thần tự giác về vệ sinh, trật tự và kỷ luật rất cao. Chính vì thế, họ nhìn dân tỵ nạn như một lũ người đói ăn, đói tiền chứ không bao giờ đói tự do với công bằng, hay đói văn minh. Khá nhiều người tỵ nạn khai thác tự do ở Đức để làm điều trái với luật pháp. Đặc biệt người Việt Nam trong vùng nầy không quen luật pháp mà chỉ quen luật rừng. Người Đức không quen nói dối, nên họ lúng túng khi khó nói sự thật. Người Việt Nam lại nói dối ngọt xớt. Họ phịa chuyện dối một cách trơn tru dễ dàng và có khi rất sống động, hấp dẫn nữa. Bị buộc phải sống chung trong trại tỵ nạn như thế, tôi chỉ còn cách cầu nguyện với Chúa để dựa vào sức của Ngài mà chịu đựng.
Một hôm nọ, tôi nằm im trên giường, buông bỏ tất cả để nói một câu sâu lắng nhất trong linh hồn tôi rằng “Chúa ơi, con muốn nghe Ngài nói cho con một lời, là con phải làm gì trong hoàn cảnh nầy?” Đó là câu cầu nguyện ngắn và thường xuyên của tôi. Tôi mệt mỏi đợi chờ Chúa đáp lại trong khi mình có cảm tưởng bị Chúa bỏ vào đây để chịu trận. Tôi nhớ mang máng Gióp từng nói “dẫu chết, con cũng cám ơn Chúa.” Cảm giác nầy làm cho tôi vừa xót xa vừa trông đợi Chúa. Tôi không nhớ mình nằm im bao lâu như thế. Bỗng nhiên những câu Kinh Thánh trong thư 1Cô-rin-tô đoạn 13 vang lên trong hồn tôi: “Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và tiếng thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng. Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng hiểu đủ các sự mầu nhiệm và mọi sự tri thức; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương thì tôi cũng chẳng ra gì. Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi. Tình yêu thương hay nhịn nhục, tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tỵ, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, ân ban nói tiếng lạ sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ. Vì chúng ta hiểu biết chưa trọn vẹn, nói tiên tri cũng chưa trọn vẹn; song lúc sự trọn lành đã đến, thì sự chưa trọn lành sẽ bị bỏ.Khi tôi còn là con trẻ, tôi nói như con trẻ, tư tưởng như con trẻ, suy xét như con trẻ; khi tôi đã thành nhơn, bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ.Ngày nay chúng ta xem như trong một cái gương, cách mập mờ: đến bấy giờ chúng ta sẽ thấy hai mặt đối nhau; ngày nay tôi biết chưa hết: đến bấy giờ tôi sẽ biết như Chúa đã biết tôi vậy.Nên bây giờ còn có ba điều nầy: đức tin, sự trông cậy, tình yêu thương;nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương.”
Tôi biết tình yêu thương của Chúa đối với tôi suốt mấy chục năm qua là nguồn sống cho tôi. Nhưng hôm nay tôi nhớ đến Lời Chúa và nhận ra rằng mình chưa hết lòng với mọi người trong tình yêu thương của Chúa. Chắc chắn Chúa yêu thương họ như Ngài yêu tôi. Chắc chắn Chúa đã chết vì tội lỗi của họ và của tôi. Đang suy gẫm như thế, bỗng nhiên tâm hồn tôi nghe một tiếng: ”Đúng rồi con. Con sẽ có hạnh phúc khi con yêu được họ. Hãy thể hiện tình yêu thương thì con sẽ thành công. Để bày tỏ tình yêu thương của ta, con cần thực tập bằng hành động. Hãy đến với họ vô điều kiện như họ là những người bạn thân vô hại đối với con.” ôi, làm sao tôi có thể diễn tả được điều nầy trong tâm trạng của tôi đây? Khi ấy tôi cảm thấy mình có tội với Chúa hơn cả những người chưa tin Chúa, vì mình chưa thể hiện tình yêu của Ngài đối với tha nhân. Nước mắt tôi chảy ra nóng cả hai màng tai. Bên ngoài tuyết trắng xóa bạt ngàn, còn bên trong tôi khóc một cách ấm áp. Ngày hôm sau tôi đã đến gần họ hơn. Tôi ngồi ăn với họ. Tôi rủ vài anh em ra chợ và đi bộ trên tuyết. Tôi im lặng ngồi bên họ, nói chuyện và nhìn ngắm họ. Tôi nói rằng tôi yêu họ dù không quen sống như họ: Sự ồn ào, vô kỷ luật, nhậu nhẹt, bừa bãi, phí thức ăn, mất vệ sinh, cờ bạc, luông tuồng nam nữ, ăn thô nói tục, thích bạo lực, nghiện ngập, ăn cắp trong các siêu thị, trốn vé xe, buôn gian bán lận, ngang bướng hết chỗ nói...
Vào một đêm nọ xẩy ra một trận đánh lộn đẫm máu giữa vài chục người Việt Nam và mấy chục người Thổ. Thật là khủng khiếp. Sau đó vài hôm, năm thanh niên ngủ chung phòng tìm cách chọc ghẹo tôi về đạo Chúa. Họ dùng những câu hỏi nhạo báng và kể những chuyện tục tĩu để trêu tôi. Họ không chịu ngủ và cũng không muốn để yên cho tôi ngủ. Tôi rất mệt và khó chịu, nhưng nhớ lại Lời Chúa phán trước đó vài hôm, tôi phải nhịn nhục chịu đựng sự chọc ghẹo nầy. Tôi nằm yên trên giường, im lặng và cầu nguyện cho họ. Tự nhiên một em nêu lên một ý kiến: “Thôi, bây giờ mình đừng chọc chú Nhật nữa. Mình hỏi thiệt chú Nhật đạo Chúa là gì? Có phải đạo Chúa là thánh chiến và là đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ hay không?” Những câu hỏi nầy gợi lên vài tia sáng trong lời cầu nguyện của tôi. Tôi cám ơn Chúa và bắt đầu đáp lại các em: “Nếu các em thích nghe, tôi sẽ trả lời cặn kẽ.”
Tôi bắt đầu nói về sự khác nhau giữa các tổ chức về đạo Chúa và Kinh Thánh. Tôi nói đạo Chúa thì nhiều hình thức, nhưng Kinh Thánh thì có một. Tôi tin Chúa vì đọc Kinh Thánh chứ không vì nghe về đạo Chúa như các em nói. Tôi biết có những người theo đạo Chúa nhưng cũng đã làm sai. Nhưng tôi biết nhiều người theo đạo Chúa đàng hoàng vì họ sống theo Kinh Thánh. Đạo Chúa thật sự là sống theo Lời Chúa chứ không phải chỉ theo tổ chức mang danh đạo Chúa. Các em có thích tôi kể một câu chuyện Kinh Thánh do Chúa Jesus nói ra hay không? Bây giờ các em đồng ý yên lặng để tôi kể, được chưa? Họ đồng ý. Khi ấy khoảng 02 giờ sáng, căn phòng vẫn tắt đèn vì đang giờ ngủ. Tôi kể câu chuyện Đứa Con Trai Hoang Đàng. Tôi nói đến tình yêu của người cha đối với đứùa con. Tôi nói đến tình mẹ con của người Việt Nam. Tôi nói đến tình quê hương nòi giống của người Việt. Tôi nói đến tình yêu của người Cha duy nhất và tột cùng của nhân loại mà dân tộc nào cũng cần có để xây dựng cuộc sống hòa bình, văn minh và hạnh phúc. Đó là tình yêu Thiên Chúa, Đấng dựng nên vũ trụ và loài người. Chúng ta thở khí trời, ăn cơm trời, uống nước trời, đau đớn kêu trời, oan ức kêu trời...Chúng ta nên nhận thức rằng mình là những đứa con hoang đàng đang lang thang kiếm sống ở xứ nầy. Chúng ta cần Chúa lắm các em ạ. Bây giờ tôi kêu gọi các em. Em nào muốn được Chúa yêu thương, được Chúa che chở, được an ủi và dắt dẫn như đứa con trai hoang đàng kia? Tôi nghe tiếng lò xo giường sắt báo hiệu một người ngồi dậy. Một giường, hai giường, ba giường, rồi bốn giường và năm giường. Tôi nói các em ngồi yên, nhưng chính mắt tôi đã thấy hai người rời khỏi giường và quỳ xuống ngay cạnh giường. Các người kia vẫn ngồi trên giường. Tôi bảo rằng các em đã nghe tôi nói, các em đã cảm động và can đảm quỳ xuống đất. Chắc chắn Đức Chúa Trời đã thấy, đã nghe, đã hiểu tấm lòng của các em. Bây giờ các em hãy lặp lại theo tôi những lời mà chính các em nên nói với Ngài ngay trong giây phút nầy.
Tôi nghe một tiếng khóc. Khi ấy tôi cũng khóc, nhưng tôi cố giữ bình tĩnh. Họ lặp theo tôi những lời cầu nguyện tiếp nhận Chúa Cứu Thế vào lòng và xin Ngài tha tội. Cầu nguyện xong, tôi khuyên họ lên giường nằm im để nhớ lại điều mình đã nói với Chúa và ngủ đi để ngày mai sẽ có một ngày vui.
Sáng hôm sau tôi thức dậy sớm hơn các em. Một anh tên là Thọ, người lớn tuổi nhất trong số các em (khoảng 35 tuổi) cũng thức dậy với tôi. Thọ lớn tiếng kêu cả phòng thức dậy. Tôi hỏi hôm qua những ai đã cầu nguyện tiếp nhận Chúa Jesus Christ? Cả năm người: Thọ, Hanh, Anh, Hồng và Bé. Sau đó vài ngày, có một anh tên là Hải, từ phòng khác cũng đến cầu nguyện tin Chúa. Rồi một cô nữa tên là Lệ vừa cầu nguyện vừa khóc và xưng ra những tội lỗi thật đau lòng. Kể từ đó tôi bắt đầu thấy dễ chịu và tôi chấp nhận sống lang thang phiêu bạt với các em giữa thế giới tỵ nạn và không than thở nữa. Tôi giới thiệu các em đến Hội Thánh Tin lành Berlin, nhưng ở đây vị mục sư đã già, bị đau mắt. ông là một người miền Nam, sống bên Tây Berlin, không thuận tiện qua chăm sóc các anh em nầy. Thiệt tình ông mục sư nầy rất tốt, nhưng ông sợ mafia thuốc lá và sợ trấn lột bên phía Đông Đức cũ. Tôi đưa họ đi xa hơn lên đến Hannover, Castrop-Rauxel, Loreley và mời các vị ở đó về Berlin giúp tôi thành lập một Hội Thánh cho người Việt ở Đông Berlin. Thay vì giúp tôi phục vụ Chúa, họ đến Berlin để loại tôi ra và vận động anh chị em đi theo tổ chức của họ, nhưng lại không đưa ai về chăm sóc đức tin của anh em cả! Tuy nhiên những mưu toan trắng trợn ấy đã vô tình đẩy tôi vào tình huống phải đeo theo Chúa hết lòng. Cuối cùng Chúa trực tiếp dạy tôi cách chăm sóc những người mới đến với Ngài. Ai thật lòng theo Chúa thì Ngài cho họ chiến thắng sự phân rẽ, được ơn và được bài học để phân biệt các thần. Từ đó, từng bước một, họ chiến thắng cuộc chiến văn hóa khốc liệt.
Thông thường người tỵ nạn Việt Nam Đông âu ít khi mua vé xe tầu, hoặc chỉ mua vé giả. Thói quen nầy khó thay đổi. Nay một số anh chị nói với tôi rằng : “Vé xe tại Đức mắt tiền quá, nhưng cứ nhân danh Chúa mà mua thì Chúa thêm sức cho mình để mình không mang tội đi vé lậu. Ngày xưa tôi đi vé lậu, vẫn bị phạt hoài, chẳng lợi ích gì cả. Nay mua vé đàng hoàng, lòng tôi bình an và cảm thấy Chúa ở trong tôi.” Có người cầu nguyện để dứt khoát bỏ thuốc lá. Người tỵ nạn Việt Nam không có thói quen chờ đèn xanh đèn đỏ. Dù bị người Đức nhìn bằng đôi mắt khinh bỉ và khó chịu, họ vẫn vượt đèn khi thấy ít xe. Nay những anh em có Chúa cũng hay nhân danh Chúa để chờ đèn xanh đèn đỏ. Họ vui mừng tạ ơn Chúa vì nhận biết Chúa đang thay đổi phong cách sống cho mình. Người Việt Nam rất sợ không có tiền để gởi về nuôi gia đình và trả nợ ra đi. Nhưng khi tin Chúa, họ nhận thấy đồng bạc hoạnh tài phá hoại hạnh phúc gia đình họ nhiều hơn là xây dựng. Trước đây, họ sợ bị đuổi về nước sẽ gặp khó khăn kinh tế, nay nhận biết rằng có Chúa thì dễ xoay xở hơn và dễ thích nghi hơn. Có người nói: “Mục đích tối hậu của mình ở cõi tạm nầy là rao truyền Tin Lành cho bà con mình, vì nhiều tiền vẫn nhiều tội lỗi; nhiều Tin Lành thì nhiều bình an.” Nghe họ trao đổi với nhau như thế, tôi sung sướng như mình đang ở trong thiên đàng. Tôi hỏi họ: “Bây giờ các em thấy đạo Chúa chưa?” Họ nói: “Cám ơn Chúa.” Đến nay đã có 86 linh hồn trở về, và hàng tuần có vài chục anh chị em thờ phượng Chúa, học Lời Chúa. 18 người đã nhận lễ Báp-tem. Mỗi tháng có người thêm vào trong Hội Thánh. Một hôm tôi đi thăm anh chị em tại một trại tỵ nạn khác; chưa vào tới phòng họ, tiếng nhạc thánh ca văng vẳng từ máy cassette, tôi cảm thấy nước trời đang hiện diện nơi đây.
Cuộc chiến văn hóa lắm khi phải lột xác và quặn thắt, nhưng vẫn đau thương, thất bại, vẫn than thở xa nhà, vẫn cảm thấy đời tha hương phiêu bạt. Càng kiếm nhiều tiền càng không muốn sống trên quê hương mình. Nhưng cuộc chiến có tính cách văn hóa mà thực chất là cuộc chiến để được sức lực của Thượng Đế trong Chúa Jesus thì khác.Cuộc chiến nầy không đòi hỏi con người phải kềm giữ mình ra khỏi sự ác và đau buồn, nó chỉ cần con người mở lòng tiếp nhận hồng ân Cứu Rỗi, Ơn Tha Thứ của Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus, từ đó họ có sức mới, có sự khôn ngoan thiêng liêng để bước đi, để được tái sinh, để được thay đổi, để bình an và vui sống. Khi đã có Chúa trong lòng, chúng ta thấy rõ rằng cuộc sống nầy chỉ là tạm bợ, nhưng luôn có cơ hội quý báu để yêu thương người lân cận. Tình yêu nầy là bằng chứng của nước trời sau khi rời bỏ thế gian. Chúng ta đi giữa thế gian một cách yếu đuối, nhưng Chúa đi cùng chúng ta. Bởi sự hiện diện của Chúa, chúng ta không bị tội lỗi cai trị nữa.
Bên ngoài Đạo Chúa giống như những tổ chức văn hóa, nhưng bên trong Đạo Chúa là cả một năng lực siêu văn hóa, siêu nhiên. Vì chính Chúa là Đấng ngự trong lòng người tin để dắt dìu và biến hóa họ, giúp họ chiến thắng điều ác và thích ứng với bất cứ nền văn hóa nào của nhân loại. Đành rằng cũng có người lợi dụng lòng tin tôn giáo để kiếm danh lợi bất nghĩa. Vì thế Kinh Thánh dạy rằng: “Vậy nếu trong Đấng Christ có điều yên ủi nào, nếu vì lòng yêu thương, có điều cứu giúp nào, nếu có sự thông công nơi Thánh Linh, nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót, thì anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn. Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh, hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa. Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có. Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người, Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.”
Ôi! Chúa Jesus Christ đã hạ mình xuống chỗ thấp nhất để nâng tôi lên cao trong Thánh Linh đầy ân phúc của Ngài. Khi ở trong Chúa, đời sống thật là quý báu thay. Cảm tạ Chúa.
Nguyễn Huệ Nhật
Mùa đông Berlin 2002
















