Khan hiếm mục sư

(Tôi muốn tìm một nhóm chữ nào cho thật xác nghĩa để làm tiêu đề cho bài viết gồm những suy nghĩ tản mác và nhật xét chủ quan của tôi, hầu có thể diễn đạt về thực trạng ngày nay các Hội Thánh VN dần dần thiếu người chăn bầy; nhưng tôi lại không tìm ra nhóm chữ nào khác hơn là "Khan Hiếm Mục Sư". Dĩ nhiên, những điểm tôi sắp nêu ra cũng chỉ có tính cách tiêu biểu ở một vài khía cạnh liên quan đến tiêu đề "Khan Hiếm Mục Sư", chứ tôi không thể liệt kê hết mọi thứ trong khuôn khổ của một bài viết. Nếu quý tôi tớ con cái Chúa nào tin rằng mình có thể bình tỉnh để đọc kỹ bài viết nầy, chịu khó phân tích, và tự đặt mình trong tâm tình của người viết để có thể cảm thông; bằng ngược lại, quý vị có thể ngưng tại đây để bài viết nầy không làm quý vị bực mình, hoặc làm cho quý vị bị tổn thương. Ðây không phải bài viết chứa đựng những lời hoa mỹ để lấy lòng nhau trong nhất thời, nhưng là những lời ngay thẳng có thể rất khó nghe đối với những ai không quen tiếp nhận lối trình bày thẳng thắn nầy. Tôi không viết bài nầy trong tinh thần quơ đũa cả nắm, cho nên đối với quý vị nào sau khi đọc bài viết nầy mà xét thấy mình không có dính dấp đến những gì tôi đề cập, thì xin cùng tôi lớn tiếng cảm ơn Chúa. A-men, HQB)

Có một Mục Sư VN đã qua đời vì bạo bệnh, từng tỏ lời than thở trong băng ghi âm bài giảng của ông rằng: "Tình trạng có nhiều mục sư đã về với Chúa, và nhiều mục sư sắp về hưu, nhưng số thanh niên trong các Hội Thánh dâng mình hầu việc Chúa rất khiêm tốn. Ðây là mối lo ngại của những ai quan tâm đến vấn đề cần có thêm người chăn bầy, và phát triển hội thánh..."

I. Thực chất vấn đề:

Sự quan tâm nêu trên không phải là thiếu hợp lý, chỉ để chúng ta "nghe qua rồi bỏ", hoặc chúng ta cho rằng việc đó có gì phải bận tâm, Chúa sẽ lo lắng hết mọi sự... Ðồng ý rằng chúng ta là con dân Chúa, nên luôn giao phó những nhu cầu cần thiết của chúng ta cho Ngài. Tuy nhiên, giao phó cho Ngài, không phải là cứ ngồi một chỗ cầu nguyện, mà nó giống y như trường hợp đau là dùng thuốc, đói thì ăn, khát thì uống. Hoặc một thí dụ dễ chứng minh nhất, đó là khi giặc hung tàn đến, chúng ta vì quá kinh hoàng nên phải bỏ chạy đến một nơi an toàn khác để lánh nạn. Tôi cũng tin rằng đã có rất nhiều người nhận thấy việc nầy nhưng không ai muốn nói ra trước suy nghĩ của mình, có lẽ vì sợ bị cô lập. Riêng lời than phiền về vấn đề thiếu người chăn bầy, thật sự là một nan đề, nhưng cũng không thiếu người né tránh nhắc đến. Thông thường thì những người không muốn nhắc đến những tiêu cực của hội thánh mình, hay giáo phái của mình vì họ chủ trương "tốt khoe, xấu che". Theo tôi không có gì khiến chúng ta ngại ngùng làm công việc "vạch áo cho người xem lưng" vì thẹo trên lưng chúng ta càng ngày càng lộ ra bên ngoài. Chúng ta không thể tìm cách bài bác những lời nhận xét tích cực, những góp ý trong sáng, nếu chúng ta tin rằng mình là người có sự sáng của Chúa. Riêng tôi, cho dù có ai lý luận, bào chữa thế nào đi nữa, thì các nguyên nhân gây ra tình trạng "khan hiếm mục sư" là một nan đề không thể phủ nhận được. Các tôi tớ, con cái Chúa cần mạnh dạn tìm hiểu rốt ráo nguyên nhân của nó, hầu giải quyết sao cho công việc phát triển Vương Quốc Chúa mỗi ngày được tốt đẹp hơn.

II. Vấn đề cần đặt ra:

Trước khi ngồi xuống viết bài nầy, tôi cũng có tham khảo với một vài anh em trong Chúa, và có người đã nói với tôi rằng: "Thà khan hiếm mục sư, còn hơn khan hiếm tín đồ"; cho nên tôi sẽ hết sức thận trọng để viết bài nầy. Theo tôi, các nguyên nhân có thể gây ra tình trạng "khan hiếm mục sư" đến từ nhiều bối cảnh khác nhau, và tôi xin tạm liệt kê một số điểm chính dễ kiểm chứng nhất theo nhận xét chủ quan của tôi để mọi người cùng suy nghĩ. Tôi sẽ không nêu ra như một thách đố, hay với mục đích gieo rắc những suy nghĩ tiêu cực trong vòng các Hội Thánh Tin Lành VN chúng ta. Và bài viết nầy dĩ nhiên là chỉ dành cho quý tôi tớ, con cái Chúa đọc chia xẻ. Nếu có ai không đồng ý những nhận xét của tôi, xin vui lòng cho tôi có cơ hội ghi nhận những lời phản bác của quý vị để giúp tôi học hỏi, để có thể trưởng thành trong Chúa hầu góp phần mang tin mừng về sự cứu rỗi của Chúa đến mọi người một cách hữu hiệu hơn trong tương lai. Ngoài ra, nếu quý vị vào muốn tìm hiểu thêm những gì tôi trình bày trước đây trong một số bài viết đã được đăng tải trong Trang Nhà "Dân Việt và Niềm Tin", xin vào xem mục "Nói Thẳng Nói Thật". Ðịa chỉ: www.danviet.net

III. Tìm hiểu về vai trò và chức vụ của mục sư:

1. Vai trò mục sư: Mục sư là người được Chúa kêu gọi dâng mình hầu việc Ngài. Thường thì các vị mục sư là người tốt nghiệp trường thần học, hoặc đã hoàn tất những khoá học căn bản về Kinh Thánh, cộng thêm kinh nghiệm, quá trình học hỏi từ các mục sư hoặc tín đồ khác, để hiểu biết về những gì Chúa mặc khải cho con người. Mục sư có bổn phận chăm sóc đời sống thuộc linh của tín đồ và phát triển hội thánh bằng cách mang những ai chưa biết về danh Chúa, đến đầu phục Ngài. Tín đồ mạnh hay yếu về đức tin, về đời sống đạo đức, mục sư là người dự phần trách nhiệm. Mục sư cũng là con người yếu đuối, bất toàn như tín đồ, mục sư KHôNG phải là Thiên Chúa, cho nên không phải điều gì mục sư nói ra cũng điều đúng cả. Tuy nhiên, tư cách của mục sư được đòi hỏi ít nhất phải bằng hoặc hơn tư cách của tín đồ, chứ mục sư không thể kém hơn tín đồ về mặc đạo đức tối thiểu mà người theo Chúa bắt buộc phải có. Trong sách I Ti-mô-thê 3:1-7, Thánh Phao Lô đã dạy về phẩm cách dành cho mục sư và chấp sự, một cách tổng quát như sau: "Phải là người không chỗ trách được, không nói hai lời, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. Ðừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại, hoà nhã; đừng ham tiền bạc, phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; vì nếu ai không biết cai trị nhà riêng mình thì không thể cai trị Hội Thánh của Ðức Chúa Trời..."

2. Chức vụ mục sư: Ðây là một chức vụ thiêng liêng khác với các chức vụ ở thế gian như: Thị trưởng, Tỉnh Trưởng, Tổng Thống... Và những bằng cấp thuộc về thần học để trang bị cho chức vụ mục sư hoàn toàn khác hẳn các cấp bằng khác trong thế gian. Chức vụ mục sư là một chức vụ THáNH nên cũng cần được đào tạo chính chắn để có khả năng phục vụ. Tuy nhiên bằng cấp không phải là yếu tố để chức vụ mục sư được Chúa xức dầu. Việc kèm theo học vị song song với chức vụ mục sư vì nghĩ rằng làm tăng uy tín cho "người chăn bầy" là hoàn toàn sai lầm. Một mục sư có nhiều bằng cấp là tốt, nhưng để những bằng cấp đó làm lu mờ chức vụ mục sư, thì có phải điều Chúa muốn không? Trong Kinh Thánh đã cho biết Thánh Phao-lô, Lu-ca cũng là người học cao và có bằng cấp, nhưng điều đáng làm gương cho chúng ta là các vị Thánh nầy không xem học thức và bằng cấp là cứu cánh, mà chỉ là phương tiện để làm sáng danh Chúa. Tôi nghĩ rằng chỉ có những ai quên lời dạy nầy:"Ðức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho người khiêm nhường" (Gia-cơ 4:6, I Phi-e-rơ 5:5) mới cho rằng học vị cao học hoặc tiến sĩ là quan trọng hơn chức vụ mục sư... Ðã có lần, tôi tận mắt chứng kiến những điều khiến phải chạnh lòng và thấy thương cho chức vụ mục sư mà tôi luôn quý trọng nay phải bị lu mờ trước học vị "Tiến Sĩ" do con người đặt để ra. Tôi cũng thương cho chính tôi và những ai bao phen ngóng cổ ngồi nghe những "Mục Sư Tiến Sĩ, Mục Sư Bác Sĩ" hùng hồn giảng dạy kẻ khác về đức tính "nhu mì, khiêm nhường" được chép trong Thánh Kinh.

IV. Những điều cần lưu ý:

1. Chọn mục sư khoa bảng: Hiện tượng một vài Hội Thánh dù không viết ra trên giấy trắng mực đen, nhưng chỉ nhắm vào cấp bằng của một "ứng viên" nào đó để làm tiêu chuẩn lựa chọn người chăn bầy, có thể là nguyên nhân cản bước những người có lòng muốn hầu việc Chúa, là người được ơn Chúa, có kiến thức thần học, có kinh nghiệm trong đời sống thực tế, nhưng lại ít, hoặc không có bằng cấp. (Tôi nói ít, hoặc không có bằng cấp như mọi người, chứ không phải hoàn toàn thất học) mà cho dù có hoàn toàn thất học đi nữa, nhưng nếu đầy ơn của Chúa, hiểu và giảng Lời Chúa cách trung thực bởi quyền năng của Chúa Thánh Linh, như một số mục sư sắc tộc ở VN, hoặc một số sứ đồ thì cũng là đáng quý. Ai cũng biết, muốn dâng mình hầu việc Chúa, ngoài tấm lòng, tối thiểu cũng cần có học để biết giảng dạy, để biết hướng dẫn hội chúng. Tuy nhiên, việc phỏng vấn để CHỈ mời "mục sư khoa bảng" quản nhiệm hội thánh, sẽ làm giới hạn số người có đủ tiêu chuẩn bình thường mà Chúa định để hầu việc Ngài, nhưng lại không vượt được cái "tiêu chuẩn" của con người, là vấn đề chúng ta cần suy nghĩ lại. Có lẽ cũng vì tình trạng cố làm sao để đạt được tiêu chuẩn dành cho một mục sư thời tân tiến, nên không thiếu những mục sư quản nhiệm một số hội thánh đã bỏ bê chức vụ được giao phó, dành nhiều thì giờ học ngày, học đêm, cố lấy cho được bằng cao học, hoặc tiến sĩ thần học để trông cho nó "oai", hoặc để tín đồ có nhiều bằng cấp không dám khinh rẻ. Học để có thêm kiến thức về thần học, hay thuộc các lãnh vực khoa học kỹ thuật hầu giúp cho chức vụ của mình đạt được kết quả thì không gì sai trái, mà còn là điều đáng khích lệ; nhưng cố gắng học chỉ để cho hơn người, chỉ để khoe khoang... thì sách Châm Ngôn 16:18-19 có chép như sau: "Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã." Và ngày nay người ta cũng thấy có nhiều mục sư tốt nghiệp cao học, hoặc tiến sĩ thần học, nhưng bài giảng của họ không cảm động được người khác đến với Chúa, bằng một mục sư bình thường biết sống đạo, biết tin kính Chúa và biết yêu chức vụ thiêng liêng do Chúa ban cho.

Có người đã nói với tôi như thế nầy: "Một mục sư có bằng cấp được ưu tiên chọn lựa hơn một mục sư không bằng cấp là một hành động công bằng, là một sự chọn lựa đúng đắn..." Tôi không chống đối nhận xét nầy vì tôi tôn trọng suy tư độc lập của người khác. Tuy nhiên, theo nhận xét của tôi: Bằng cấp không phải là tiêu chuẩn duy nhất để làm mục sư. Ngoài bằng cấp ra, mục sư phải là người thật sự được Chúa kêu gọi, phải có ơn, phải có bông trái thuộc linh, phải có kết quả trong chức vụ, phải yêu chức vụ và phải sống chết với chức vụ mà Chúa giao cho mình... Ngoài ra, nếu chúng ta không có cơ hội học hỏi nhiều như các mục sư khác thì cũng chớ nên mặc cảm, rồi tỏ ra ganh ghét những ai có bằng cấp. Tôi từng nghe, có người thay vì cố gắng học hỏi để có kiến thức, thì lại tìm cách mỉa mai, hoặc đi rêu rao với mọi người rằng: "Bằng cao học, hoặc tiến sĩ chỉ cần vài chục Mỹ kim là có ngay...". Theo tôi, chỉ có những ai không từng đến trường mới dám tuyên bố như thế. Ðành rằng, chuyện mua bán bằng cấp có xảy ra ở ngoài đời, nhưng cũng đâu phải dễ dàng như ở VN ngày nay. Bằng cấp còn phải đi đôi với trình độ hiểu biết của người có nó nữa chứ?

Có một con cái Chúa đã chia xẻ với tôi rằng: "Tại VN, suốt 27 năm qua, dù Hội Thánh không được mở trường đào tạo mục sư, vậy mà các Hội Thánh Tư Gia mọc lên như nấm, họ tự đào tạo mục sư mà không cần bằng cấp gì cả. Bây giờ số lượng mục sư của các Hội Thánh tư gia đông hơn số mục sư từng tốt nghiệp trong các trường Kinh Thánh trước đây. Khi một người được ơn kêu gọi của Chúa và được trang bị hai mặt: đời sống thuộc linh (đạo đức) và Kiến Thức cần thiết về Ðạo cũng như Ðời, dù người đó không có bằng cấp, cũng được Chúa sử dụng. Người đó không cần phải làm mục sư cũng có thể giảng lời Chúa, phục vụ những con cái Chúa đúng nghĩa với danh từ Ðầy Tớ Chúa..."

2. Cung cách giới thiệu mục sư: Giới thiệu MS Nguyễn văn X, hay Trần văn R và kèm theo học vị của họ khi có nhu cầu thì không nói làm chi, chứ lúc nào cũng Mục Sư Tiến Sĩ hay Mục Sư Bác Sĩ... đã trở nên không cần thiết. Tại sao? Thí dụ: Chúng ta giới thiệu một số vị mục sư trước mọi người. Chúng ta giới thiệu Mục sư Tiến Sĩ Nguyễn Văn Mít, vì Mục Sư Mít có bằng Tiến Sĩ thần học, hoặc giới thiệu Mục Sư Bác sĩ Lê Văn Xoài, vì Mục Sư Xoài có bằng bác sĩ y khoa. Ðến lượt chúng ta giới thiệu một mục sư khác nhưng mục sư nầy lại không có bằng, mặc dù ông đã từng học trường Kinh Thánh, từng hầu việc Chúa rất có ơn, rất lâu năm, rất kinh nghiệm, rất có khả năng, nhưng hiện đang ở VN và sống nghề khiêm tốn như đạp xích-lô, hoặc nghề thợ hồ để nuôi sống gia đình, hầu có thể song song hầu việc Chúa, vì Hội Thánh chưa có khả năng chu cấp tài chánh cho ông. Chẳng lẽ chúng ta lại giới thiệu ông là "Mục Sư Xích-lô đạp Trần Văn Ổi, hoặc "Mục Sư Thợ Hồ" Trần Văn Chôm Chôm hay sao? Theo tôi, giới thiệu một người và kèm theo học vị của họ là điều đáng tôn trọng, vì chúng ta biết quý trọng những người có học. Bởi chúng ta không giống những kẻ vô thần, thất học, ngông cuồng, chỉ biết tìm cách trù dập, ruồng bỏ những người trí thức, bằng cách khoác lác cho rằng mình là "đỉnh cao trí tuệ", hoặc trịch thượng tuyên bố:"trí thức không bằng cục phân". Nhưng nếu chúng ta chủ trương giới thiệu người khác, hoặc tự nhận mình là "Mục Sư Tiến Sĩ" hay "Mục Sư Bác Sĩ" thì đã vô tình góp phần trong việc làm giảm giá trị và uy tín của chức vụ mục sư cao đẹp, là đầy tớ của Ðức Chúa Trời.

3. Ðược gọi mục sư vẫn chưa phải là mục sư: Chúng ta muốn được thiên hạ gọi mình là mục sư, nhưng lại không muốn làm những công việc mà các vị mục sư thường làm. Chúng ta tốt nghiệp chương trình cử nhân, hoặc cao học thần học để cho tín đồ hoặc các mục sư khác không dám "coi thường", nhưng lòng chúng ta chỉ muốn hầu việc Chúa khi nào đồng lương mà Hội Thánh nào đó có thể chu cấp cho chúng ta xứng đáng; bằng không, chúng ta thà đi làm việc ngoài đời chứ không dại gì đi hầu việc Chúa với đồng lương chết đói như thế, thì có phải là yêu mến Chúa không? Chúng ta nhận tiền lương từ hội thánh VN, hay được sự bảo trợ của Hội Thánh Mỹ nhưng quanh năm suốt tháng cứ ù lì trong nhà, không dám bước ra khỏi nhà để làm chứng đạo hay làm một cái gì ích lợi cho công việc Chúa. Chúng ta chỉ chờ đến ngày Chúa Nhật, lôi ra một bài giảng của năm nào đó trong ngăn kéo, sửa lại đôi chút rồi mang ra "phang" tiếp một cách bừa bãi; hoặc chúng ta chỉ chờ có Hội Thánh nào khác mời đi giảng để cho nó có vẻ "thay đổi không khí", chứ thật sự chúng ta chẳng yêu chức vụ mà chúng ta đã nhận và bắt buộc phải chu toàn. Có người trong chúng ta, thay vì minh danh thẳng thắn góp ý với anh em, thì lại tạo ra những loại thư nặc danh để tấn công anh em, hoặc sử dụng lời Chúa để rủa sả anh em một cách vô trách nhiệm. Tôi từng đọc thư của một người ký tên là mục sư, viết thư gửi lung tung khắp nơi để nguyền rủa một mục sư khác là "quái thai" và sử dụng toàn những lời lẽ mà ngoài đời còn biết cho đó là "hạ cấp". Tôi đọc lá thư đó mà phải rùng mình, vì chính tôi không ngờ một người mang danh là mục sư mà có thể tàn độc như thế. Tôi không ngần ngại nêu tên tác giả của lá thư đó trong bài viết nầy, nhưng vì sự tế nhị, cũng như chính tôi cũng không muốn làm chuyện "cạn tàu ráo máng" với một người cao niên hơn tôi, hoặc không có "ân, oán" gì với tôi. Tuy nhiên, tôi chân thành kêu gọi tác giả của những lá thư nặc danh, hoặc minh danh, nhưng thiếu sự bao dung và trong sáng đó, hãy cúi đầu ăn năn với Chúa trước khi tôi nêu đích danh trong một bài viết kế tiếp. Tôi không làm việc nầy vì quá khích, nhưng vì tôi không muốn nhìn thấy cảnh chức vụ mục sư, một chức vụ tôi từng quý trọng bị lạm dụng hay lạm phát.... Cũng may là thành phần nầy trong chúng ta chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nhưng khổ nỗi, dù đây chỉ là trường hợp "con sâu làm rầu nồi canh", nhưng nó cũng chẳng khác nào cái "mụn nhọt" trong thân thể của chúng ta; cắt bỏ thì đau, để lại thì nhức nhối.

4. Kiêu ngạo về ơn phước Chúa ban: Khi Chúa cho gia đình chúng ta có cơ hội làm ăn khá giả nên không cần tiền chu cấp của Hội Thánh, thay vì cảm ơn Chúa thì chúng ta lại tỏ ra hãnh diện và xem như đó là một thành tích và có ý xem thường những mục sư nào nhận đồng lương khiêm tốn của Hội Thánh để có thể hầu việc Chúa. Chúng ta dùng tiền bạc để mua chuộc hết ngươi nầy đến kẻ khác, thay vì bày tỏ tình yêu thương một cách chân thành để người khác đến với Chúa. Chúng ta cho rằng mình được Chúa ban phước vì làm ăn phát đạt. Gặp ai nghèo khó chúng ta cũng biết "rũ lòng thương xót", nhưng rất vụng về. Chúng ta lại là những người rất hùng hồn trong bài giảng khi kêu gọi mọi người đừng xem trọng vật chất, hãy sống cuộc sống giản dị và nên nhắm vào nước thiên đàng, nhưng chúng ta lại thích đời sống xa hoa để chứng tỏ rằng Chúa có ban phước cho gia đình mình. Ngược lại, cũng có những người trong chúng ta thấy người khác giàu có nhưng cũng hầu việc Chúa, nên tỏ ra ganh ghét, rồi tụ năm, tụ ba, tìm cách tung tin đồn thất thiệt nói xấu người ta một cách vô tội vạ, thế nhưng gặp những "nạn nhân" thì chúng ta cũng tay bắt mặt mừng y như một kịch sĩ đang diễn tuồng trên sân khấu. Chúng ta đúng là những người "chỉ được mặt, nhưng không được lòng nhau". Ðây là hình ảnh của mấy ông thầy thông giáo ngày xưa mà Chúa Jesus từng lên án một cách gắt gao.

5. Kiêu ngạo về giáo phái: Mặc dù trong Kinh Thánh Chúa Giê-xu có phán rằng: "Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Ðức Chúa Trời trước các ngươi", hoặc Thánh Phao-lo đã khuyên là: "....Khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau, chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý, một lòng cùng nhau" I Cô-rin-tô 1:10. Vậy mà không thiếu những người trong chúng ta lúc nào cũng câu nệ vấn đề giáo phái. Lúc nào cũng nghĩ rằng giáo phái của mình mới là "chánh phái" còn các giáo phái khác là "tà phái" dù những giáo phái kia cũng chủ trương kính Chúa yêu người, cũng tin Chúa Ba Ngôi... Trong các bài giảng, chúng ta hay dạy người khác phải nhu mì, khiêm nhường, nhưng chính chúng ta lại kiêu ngạo khi nhìn người khác như là những kẻ kém đạo đức hơn mình.

6. Mục sư phải là người gương mẫu: Có một thanh niên Tin Lành hỏi tôi rằng: "Một bài giảng làm cho người ta nghe cảm động, để người ta tin nhận Chúa, một mục sư có cần phải có khả năng hùng biện hay không...?" Và tôi đã trả lời như sau: " Một cách tổng quát, nếu tôi là mục sư, Chúa cho tôi có khả năng hùng biện thì tốt, nhưng không có cũng không sao. Ðiều quan trọng là những gì tôi nói ra, hoặc viết ra không mâu thuẫn với hành động của mình. Tôi không cần phải tỏ ra mình là người đạo đức, nhưng mình phải thật sự đạo đức. Tôi phải có đời sông gương mẫu, chứ không giống ông thầy giáo dạy học trò rằng: "Các em nghe tôi nói, nhưng đừng làm theo những gì tôi làm". Nói một cách khác. Nếu chúng ta khuyến cáo người khác đừng dùng rượu, dùng thuốc, thì chúng ta đừng dính dấp đến việc mua bán những thứ mà chúng ta cho là "xấu". Nếu chúng ta biết khuyên người khác đừng gian lận tiền thuế của chính phủ, thì chúng ta đừng ăn gian tiền trợ cấp của chính quyền bằng cách mua nhà cho thân nhân đứng tên, để cho mình mướn lại, để nhà nước trả tiền cho mình. Chúng ta dạy người khác chân thật, thì chúng ta không thể nói hai lời, có nói có, không nói không. Chúng ta dạy người khác không làm chứng dối, thì chúng ta tránh đừng dối trá trong việc dàn dựng những mẩu truyện không đúng sự thật để hạ uy tín những người mà mình không thích vì ganh ghét một điều gì đó. Chúng ta tránh gây tổn thương đến danh dự người khác như mình không thích người khác làm mình tổn thương vậy. Chúng ta không nên kể ơn khi giúp người khác, không nên săn đón người lân cận một cách quá mức bình thường, để mong người ta thọ ơn mình rồi theo đạo, nhưng phải giúp vì tình yêu thương mà Chúa đã dạy, và rồi cũng không nên lạnh nhạt với những ai mà sau thời gian "theo đuổi" người ta vẫn cứng lòng không chịu tin Chúa. Nếu chúng ta có làm điều gì sai trái, có ai chân thành khuyên giải, cản ngăn, thì đừng mở Kinh Thánh ra "dằn mặt" người ta là chớ nên "xét đoán kẻ khác", và....

7. Gây vấp phạm cho người khác: Tôi có quen biết một tín đồ bên âu Châu, rất yêu mến Chúa và có lòng hầu việc Ngài. Thấy anh cũng khá hiểu biết Kinh Thánh nên mọi người khuyến khích anh nên ghi danh học thần học, và anh cho biết rằng tương lai thì không biết sao, chứ bây giờ anh không dám làm mục sư. Hỏi tại sao, anh trả lời: "Tôi rất yêu mục sư và cũng rất ghét mục sư. Tôi yêu mục sư là vì Chúa dạy tôi phải yêu anh em mình, nhưng tôi ghét mục sư là vì tôi không may mắn nên những mục sư tôi từng biết qua, đa số chỉ thích người ta ca tụng, chứ không thích nghe người ta phê bình, dù rằng người ta chỉ phê bình trong tinh thần xây dựng..." Một tín đồ trẻ tuổi khác tại Hoa Kỳ mà tôi từng tiếp xúc. Anh rất cởi mở, có khả năng và rất yêu mến Chúa, và anh cũng cho biết một việc tương tự: "Em từng chứng kiến cái cảnh mục sư quản nhiệm bao phen đi nói sau lưng những tín đồ mà ông cho là "yếu đuối", thay vì phê bình trực tiếp những người nầy, là những con chiên mà ông có trách nhiệm nâng đỡ, nuôi nấng về mặt tâm linh...." Riêng kinh nghiệm của cá nhân tôi. Ngay tại tiểu bang Oregon nơi gia đình tôi đang sinh hoạt, thờ phượng Chúa và góp phần hầu việc Ngài. Chúng tôi và nhiều tín đồ khác biết rất rõ là có ít nhất một mục sư VN đã sử dụng toà giảng để cùng những tín đồ quá khích thuộc vây cánh của ông chỉ trích mục sư khác một cách bừa bãi, khiến cho những người mới tin Chúa phải lắc đầu ngao ngán. Ðối với thành phần nầy tôi thường tránh không gặp mặt để tôi khỏi phải gọi họ là mục sư, một chức vụ mà tôi từng quý trọng, bởi lẽ nếu tôi tiếp tục gọi những người như thế là mục sư, tôi e rằng mình đã vô tình làm giảm giá trị của chức vụ mục sư và xúc phạm những mục sư chân chính khác.

8. Phải biết chắc là mình được Chúa kêu gọi: Ai cũng biết, nếu có điều kiện, các tôi tớ, con cái Chúa cũng nên thành lập thêm hội thánh để có nơi cho mọi người thờ phượng, hầu việc Thiên Chúa. Nhưng tình trạng vì quá "nóng cháy", hoặc vì có sự hiềm khích với mục sư , hoặc một "chức sắc" nào đó trong hội thánh, rồi tìm vài ba gia đình thuộc thành phần muôn đời bất mản hết người nầy đến kẻ khác, tách ra thành lập hội thánh, rồi chúng ta tự xưng là mục sư, cho dù có được giáo hội tấn phong hay không tấn phong chức vụ chăn bầy cho chúng ta; và chúng ta cũng không cần biết chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình hay không, là điều nên tránh. (IIPhi-e-rơ 1:10) và (ê-sai 49:5-6). Chúng ta không thể ngông nghênh đứng trên bục giảng và cứ tưởng mình là người đang chăn một bầy chiên thứ thiệt ngoài đồng, để rồi cứ "phán" bừa bãi, dẫn dụ những câu truyện vừa cường điệu, vừa thiếu sự khả tín không liên can gì đến bài giảng, hay lời Kinh Thánh. Nếu chúng ta nói rằng tôi làm như thế với mục đích là để làm chứng cho Chúa, thì chúng ta cũng cần biết rằng Chúa không có dạy chúng ta làm chứng dối cho Ngài?

9. Dèm pha, bao che, tùy tiện: Chúng ta không chịu sử dụng lý trí, hoặc sự suy tư độc lập để nhận xét, phán đoán một vấn đề, một sự việc nào đó, mà chỉ phản ứng theo cảm tính. Không biết vô tình hay cố ý, nhưng chúng ta thường biến những buổi gọi là "nhóm thông công" hoặc "cầu nguyện cho công việc Chúa" thành những buổi nói sau lưng những đầy tớ khác của Chúa, hay ngay cả những tín đồ nào không "yêu mến Chúa" giống chúng ta. Chúng ta không chăm lo việc của hội thánh nơi chúng ta quản nhiệm, nhưng lại dành nhiều thì giờ xâm xỉa vào công việc của những nhóm khác, hội thánh khác. Làm việc gì chúng ta cũng sợ mang tiếng "làm chính trị" nên không bao giờ dám bung ra bên ngoài để làm chứng đạo, do đó hội thánh của chúng ta thường không có thêm người mới. Vì không có thêm người mới, vì sợ người ta cho rằng hội thánh của chúng ta không phát triển, nên chúng ta cũng rất sợ người cũ bỏ đi hội thánh khác hay nhóm khác, cho nên chúng ta không ngần ngại bỏ công sức vận động hết người nầy đến kẻ khác tẩy chay ông nầy, bà nọ, bằng những lý do rất vu vơ như: công kích mục sư, làm chính trị, hay giáo phái đó là tà đạo v.v... Tuy vậy chúng ta cũng không quên mang lời Kinh Thánh đọc cho mọi người nghe: "Ví có ai nói rằng: Ta yêu Ðức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối; vì kẻ nào chẳng yêu anh em mình, là người mình thấy, thì không thể yêu Ðức Chúa Trời, mà mình chẳng thấy được?" I Giăng 4:20. Chúng ta thường tuyên bố "tôi không làm chính trị" nhưng chúng ta rất giỏi "lobby" để đạt được mục đích riêng tư. Những công việc chúng ta làm, người ngoài đời không có Chúa còn biết đó là những hành động "đâm sau lưng chiến sĩ", nhưng đối với chúng ta thì đây là cách "hầu việc Chúa". Chúng ta dối chính mình, nhưng lại dạy kẻ khác chớ dối người. Chúng ta cấu kết với nhau, vận động, bảo trợ cho con cán bộ việt cộng ra hải ngoại du học, rồi tuyên bố đó là đường lối mới để thay đổi chế độ sau nầy. Chúng ta không tập trung công sức nâng đỡ tín đồ về phần thuộc linh, nhưng thích toa rập theo kiểu "huyện bênh huyện, phủ bênh phủ" để cô lập bất cứ ai có lòng trong sáng, thẳng thắn phê bình những suy nghĩ và hành động mâu thuẫn của chúng ta. Chúng ta chỉ thích làm những gì có lợi cho riêng chúng ta, hay giáo phái của chúng ta. Chúng ta bất chấp quyền lợi của người khác bằng cái "vỏ bọc": "tôi không làm chính trị". Nếu những toan tính của chúng ta thành công, chúng ta rối rít "cảm ơn Chúa", nếu thất bại, chúng ta bào chửa bằng cách đổ thừa cho ma quỷ cám dỗ, hoặc "thiêng liêng" hơn thì cho rằng đó là "ý Chúa".

10. Chống đối mục sư, xem mục sư như thần thánh, và các vấn đề phạm tội: Chúng ta không thích xây dựng Hội Thánh mà chỉ thích phá hoại, nhưng lại cứ tưởng mình là người "yêu mến Chúa", đang hầu việc Chúa. Quanh năm suốt tháng chúng ta thường không làm gì cả cho công việc trong hội thánh, mà chỉ chờ đợi đến ngày Chúa Nhật, tìm cách xuất hiện trên máy vi âm trong giờ thờ phượng để cầu nguyện thật dài và kèm theo những cái hít hà, tắc lưỡi nghe rất thiết tha, nhưng song song chực hờ tìm kẻ hở trong bài giảng của mục sư để xầm xì với người khác về những gì họ bất đồng với mục sư. Chúng ta rất hùng hồn đả kích khơi khơi, nhưng lại yếu ớt trong việc góp ý trực tiếp với mục sư bằng tình anh em trong Chúa. Chúng ta luôn nhân danh "con cái Chúa" để giao khoán công việc nhà Chúa cho riêng mục sư y như là "con cái ông chủ" đối với "đầy tớ của chủ"... Hoặc chúng ta lại quá thiêng liêng, lúc nào cũng xem mục sư như là thần thánh, cái gì mục sư nói như là Chúa nói, thấy khuyết điểm của mục sư mà không dám thẳng thắn góp ý, đúng nơi, đúng chỗ, để khi mọi chuyện tác tệ rồi mới quay ra chống mục sư như chống kẻ thù. Ngoài ra, đối với các hiện tượng mục sư phạm tội cách rõ ràng mà chúng ta vẫn cố bào chữa, bao che, vì sợ mất mặt chung, cũng khá phổ thông. (Trường hợp một mục sư VN phạm tội ngoại tình, bị giáo hội cắt phép thông công, nhưng ông vẫn ngang nhiên tách ra mở hội thánh khác, vẫn nhận mình là mục sư, vậy mà chúng ta vẫn xem ông như thần tượng vì cho rằng ông rất "hùng biện". Trường hợp khác, một mục sư danh tiếng người Mỹ đã bị tù vì tham lạm tài sản giáo hội hầu như cả thế giới đều biết; việc ông xây những toà nhà to lớn, sang trọng trên đồi, ngay cả nhà nuôi chó của ông cũng có gắn máy lạnh, đâu phải chuyện nhỏ như cái hộp quẹt mà ông dấu trong túi áo; các tín đồ chung quanh ông cũng đâu phải "mù loà" mà không thấy.) Chính vì chúng ta không can đảm "hốt cái đống rác giữa nhà" từ lúc ban đầu, không diệt cái xấu từ trong trứng nước, mà chỉ lấy thùng, lấy thúng úp lại, nó mới ra nông nỗi đó, và kết quả là đạo của Chúa bị người ta đem ra chế giễu.

Những điều tôi vừa nêu ra, không phải để đả kích những người phạm các sai lầm, vì tôi cũng biết đã là con người yếu đuối bất toàn, chuyện bị cảm dỗ hay sa ngả, phạm tội, là chuyện không phải ai cũng có khả năng vượt qua. Trong cuộc đời chúng ta, có ai dám nói rằng mình chưa lần nào phạm tội với Chúa? Ðiều tôi muốn nói ở đây là sau khi phạm tội, chúng ta có biết ăn năn với Chúa, hay nhận sai với người hay không mới là chuyện cần bàn? Ngày nay tại VN, thiếu gì người phạm tội nhưng vì họ có quyền lực trong tay nên không ai dám nhắc đến, hoặc có khi người ta còn cúi lòn trước kẻ phạm tội nữa là đằng khác. Hoặc chúng ta phạm tội nhưng khéo bưng bít nên không ai biết. Chúng ta là tôi tớ, con cái Chúa, chúng ta hẵn đã biết một bài học quý báu trong câu truyện của Thánh Kinh về người đàn bà ngoại tình bị mọi người đem ra định ném đá, và Chúa Giê-Xu đã xử sự ra sao? Khi thấy anh em mình có chỉ dấu làm những điều sai trái, chúng ta thường không thực sự cầu nguyện cho họ, không thật sự giúp họ vượt qua những cám dỗ, không chịu khuyên can, vì sợ mích lòng, sợ bị thù ghét, sợ mang tội xét đoán người khác.... Nhưng sau khi có ai phạm tội rồi, dù người ta biết ăn năn, dù người ta đã xin Chúa thứ tha, nhưng chúng ta không tha cho họ, và luôn tìm cách ruồng bõ, cô lập họ, vì nghĩ rằng họ không ra chi, còn mình mới là thánh thiện.

11. Bất công với mục sư: Nếu có ai đã thật sự quyết định dâng mình hầu việc Chúa, chắc không còn quan tâm nhiều về vấn đề vật chất, nhưng chúng ta cũng phải có bổn phận cung cấp cho mục sư của mình tạm đủ những thứ cần dùng và phương tiện để hầu việc Chúa như Kinh Thánh đã dạy; chứ chúng ta thì sống trong nhung lụa, năm nào công việc làm cũng được tăng lương, miệng cảm ơn Chúa rối rít, nhưng khi ngồi xuống tính tiền trợ cấp cho người chăn bầy, thì "tiền ra như máu chảy", để cho mục sư của mình sống èo ọt với vật giá càng ngày càng leo thang... Chúng ta đổi nhà như đổi áo, bàn ghế trong nhà thay đổi theo thời trang hằng năm, xe thì hai, ba chục ngàn một chiếc, còn mục sư của mình, "nếu biết khôn", cứ sống trong chung cư rách nát, chạy xe phải thật cũ. Nếu mục sư nào "dại dột làm cách mạng" về tài chánh, bằng cách để cho vợ con phụ chút tiền mồ hôi nước mắt, mua sắm chút ít đồ trang sức, hoặc vật dụng trong nhà cho coi được, thì cuộc đời trở nên "khốn nạn" ngay lập tức. Chúng ta không biết cảm thông cho cuộc sống đạm bạc của mục sư mà còn châm biếm nào là: "Bà mục sư hột xoàn, ông mục sư Toyota, con mục sư Lexus v.v." thì thử hỏi ai mà không ngán ngẫm, hoặc còn phấn khởi để dâng mình hầu việc Chúa?

V. Kết luận:

Trong Kinh Thánh chúng ta thấy Chúa cấm con dân Ngài xét đoán kẻ khác, nhưng Chúa không cấm chúng ta nhắc nhở, phê bình anh em mình trong tinh thần trách nhiệm và trong sáng. Nếu những hình ảnh tiêu cực nêu trên cứ tiếp tục tái diễn từ năm nầy đến tháng nọ mà không ai dám, hay muốn lên tiếng phê bình, sửa sai, trong tình anh em trong Chúa như đã nói, thì thử hỏi có được bao nhiêu thanh niên còn nóng cháy thật sự để dâng mình hầu việc Chúa. Chúng ta đừng đổ thừa là những người trẻ không biết yêu mến Chúa, hay không muốn hầu việc Chúa. Bằng chứng là trong quá khứ và hiện tại, có những người trẻ đã từ bỏ công việc với đồng lương thật hậu, những chức vụ rất cao trong các công ty lớn, để dâng mình hầu việc Chúa. Những bạn trẻ nầy chấp nhận từ bỏ con đường hoạn lộ rộng thênh thang ngoài đời để đi vào "ngỏ hẹp" mà không nao núng. Theo tôi, chính một số người trong chúng ta đã tạo cho thế hệ sau mình có cái nhìn sai lạc về vai trò của người chăn bầy. Ngày nay, đối với một số người trẻ, chức vụ chăn bầy hầu như không còn là một cái gì thiêng liêng nữa, mà nó đã trở thành một cái "job" như muôn ngàn cái "job" ngoài đời. Ngoài ra phẩm cách của chúng ta là người được gọi là "mục sư" không còn được nêu cao về mặt đạo đức thật như Kinh Thánh dạy dỗ, mà chỉ được chúng ta trang sức bằng hình ảnh giả dối bên ngoài, bằng cách đâu lưng lại để ca tụng nhau, để làm công việc mà người ngoài đời gọi là: "mặc áo thụng vái nhau" . Chúng ta dạy người khác phải có lòng tha thứ, nhưng chính chúng ta luôn tìm cách cô lập những ai có khả năng hơn chúng ta, không nói theo chúng ta, có ơn trong việc góp phần hầu việc Chúa, hoặc dám lên tiếng phê bình chúng ta... bằng thứ vũ khí mà chúng ta luôn giữ bên mình đó là: "không được xét đoán kẻ khác", " hoặc "không được thấy cái rác trong mắt của tao...", thì thử hỏi đây có phải là: Những vấn đề mà các Mục Sư VN chân chính có muốn biết hay không?

Huỳnh Quốc Bình

(Viết xong ngày 10 tháng 4 năm 2003)

Vietnamese Christian Church of the Nazarene

7016 NE Sandy Blvd., Portland, Oregon, USA

(503) 249-9333

E-mail: hqbinh0528@hotmail.com

www.danviet.net