Người Chăn

“Hỡi anh em, xin anh em kính trọng kẻ có công khó trong vòng anh em, là kẻ tuân theo Chúa mà chỉ dẫn và dạy bảo anh em. Hãy lấy lòng rất yêu thương đối với họ vì cớ công việc họ làm.” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:12-13)

 

Có những người chăn chen lấn nhau

Nhờ phân chiên bón xén hoa mầu

Người chăn thuê chỉ cần hoa lợi

Bởi có nhiều chiên mới sang giầu

 

Có những người chăn thích leo cao

Tới đâu cũng muốn nhảy qua rào

Vơ cho bằng được chiên chuồng khác

Gom một bầy to để xôn xao

 

Cũng có người chăn ăn thịt chiên

Luôn luôn săn đuổi lợi danh quyền

Con nào mập mạp săn sóc kỹ

Con đói gầy xo bỏ ngữa nghiêng

 

Có những người chăn vội vã chăn

Rất quen múa gậy xé tung màn

Làm như kịch sỹ trên sân khấu

Hăng hái như người đi vỡ hoang

 

Có những người chăn phải xa chiên

Chân tay bị khóa để nằm yên

Tháng ngày lao lý vì cộng sản

Bụng đói từng cơn thắt liên miên

  

Có những người chăn biết đớn đau

Bàn chân rỉ máu những đêm thâu

Đi tìm chiên lạc, chiên thương tổn

Nâng đỡ từng con rịt với dầu

 

Có những người chăn trông ốm o

Thấp hèn yếu đuối tợ Phao-lô

Bị anh em giả tìm bắt bớ

Vu khống bao điều oan trái cho

 

Có những người chăn biết khóc than

Tưới lên đồng cỏ nước mắt tràn

Để lương thực sống luôn đầy đủ

Ngắm nghía bầy chiên nghỉ trong ràn

 

Có một người chăn nghe tiếng chiên

Mỗi con một giọng thở than phiền

Lắng nghe tất cả rồi ấp ủ

Hôm sớm đôi bề được ủi yên

 

Có một người chăn chết vì chiên

Người chăn duy nhất: Đấng Chăn Hiền

Không hề có chỗ riêng kê gối

Đổ huyết mình ra chuộc bầy chiên

 

Nguyễn Huệ Nhật