Truyền Giáo Trong Bối Cảnh Văn Hóa Việt Nam

I. Hiện tình công việc Chúa ở Việt Nam

Tin Lành được truyền đến Việt Nam năm 1911 đến nay là 90 năm. Sau năm 1945, công việc Chúa ở miền Bắc ngưng đọng vì thay đổi chế độ. Những Hội Thánh được xây dựng trước đó vẫn còn tồn tại nhưng không phát triển mặc dầu Tổng Hội Tin Lành Miền Bắc đã được tư cách pháp nhân từ lâu. Khoảng 10 năm trở lại đây, do đất nước đổi mới và có những tín hữu mới tin Chúa từ các trại tị nạn ở Hải ngoại trở về, nên số tín hữu có gia tăng. Chỉ có sự gia tăng đáng kể là phong trào tin thờ Chúa giữa vòng đồng bào người dân tộc Hmong thông qua chương trình phát thanh Tin Lành trên đài FEBC phát thanh ở Manila.

Ở miền Nam, Hội Thánh được tự do truyền giáo, nhiều Hội Thánh được thành lập. Sau năm 1975, miền Nam thay đổi chế độ, Hội Thánh gặp nhiều khó khăn, bắt bớ và hạn chế, nhiều nhà thờ bị đóng cửa, Viện Thần Học bị đóng cửa, các Hội Thánh còn lại cố gắng duy trì. Khoảng 10 năm trở lại đây, tình hình đất nước đổi mới, con số các Hội Thánh người Kinh không gia tăng nhưng số lượng tín hữu có gia tăng, các Hội Thánh người dân tộc không còn nhà thờ phải nhóm ở nhà nhưng cuộc phục hưng đã xảy ra khiến số lượng tín hữu người dân tộc tăng lên rõ rệt.

Hãy cùng tôi thử so sánh vài con số sau đây:

Tại Ðại Hội Liên Hữu Tin Lành Việt Nam Thế Giới ở Santa Ana năm 1998, Mục sư Giáo sĩ Reg Reimer đã đưa ra con số thống kê về Hội Thánh Tin Lành Việt Nam từ năm 1911 cho đến 1998 như sau:

. Dân số Việt Nam là 80 triệu. Trong số đó 81% là người Kinh và 19% là người các Dân Tộc.

. Tín hữu các Hệ Phái Tin Lành là 600,000. Trong đó, 500 ngàn tín hữu là người các Dân tộc, chỉ có khoảng 100 ngàn là tín hữu người Kinh.

Mới đây trong tháng 4, 2001 tôi có về Việt Nam.Tôi được nghe con số tín hữu Tin Lành do Chính Phủ Việt Nam công bố là 2 triệu người. Tôi vẫn không biết dựa vào đâu để có con số khả quan nầy. Theo một Mục sư chuyên thu thập tin tức và làm lịch cho Hội Thánh Tin Lành hằng năm thì, con số nầy có thể phân phối như sau: Miền Bắc có khoảng 1 triệu tín đồ Tin Lành, đa số là người các dân tộc, trong đó có 800 ngàn người Hmong; Miền Nam có khoảng gần 1 triệu tín đồ , trong đó nửa triệu là người các dân tộc cao nguyên và nủa triệu là người Kinh. Các Nhóm Hội Thánh Tư Gia có khoảng 100,000 tín đồ gồm cả Kinh lẫn Dân Tộc. (Số tín đồ Công Giáo khoảng 8 triệu.)

Dù số lượng tín hữu Tin Lành nói trên có chính xác hay không, Hội Thánh Tin Lành đã có một chỗ đứng, một tiếng nói tại Việt Nam, vì thế sau 25 năm khó khăn chịu đựng, âm thầm truyền giáo, nay Chính Phủ Việt Nam đã công nhận Tư cách Pháp Nhân của Hội Thánh. Ngày 3 tháng 4 vừa qua, tôi có cơ hội tham dự buổi lễ nhận tư cách Pháp Nhân và kỷ niệm 90 năm Tin Lành đến Việt Nam, tổ chức tại nhà thờ Chi Hội Sài-gòn. Trong lễ nầy Ban Tôn Giáo Chính Phủ đọc tuyên bố công nhận Hiến Chương và Tư Cách Pháp Nhân của HTTLVN và danh sách 23 vị được bầu tự do bằng phiếu kín vào Ban Trị Sự Tổng Liên Hội. Tân Hội Trưởng là MS Phạm Xuân Thiều, người đã tốt nghiệp Cao Học Thần Học tại Mỹ trước 1975. Cấp Ðịa Hạt không còn như trước. Nay chỉ còn Tổng Liên Hội và các Chi Hội. Tôi thấy các Mục sư hiện rất phấn khởi và hy vọng công việc Chúa sẽ phát triển trong thời gian tới. Nhưng một số người vẫn hoài nghi về sự tự do phát triển Hội Thánh tại Việt Nam với bằng chứng Tổng Hội Miền Bắc đã được Tư cách Pháp Nhân từ lâu nhưng Hội Thánh miền Bắc vẫn không phát triển. Vấn đề phát triển Hội Thánh hiện nằm ở những con người và sự lãnh đạo Hội Thánh, các nhân sự truyền giáo được huấn luyện, đức tin nơi quyền phép Chúa và phương pháp truyền giáo thích hợp. 


II. Bài Học Về Hội Thánh Ðại Hàn--Cảm Tưởng Du Lịch Thủ Ðô Hán Thành


Trong chuyến bay từ Việt Nam trở lại Mỹ ngày 5 tháng Tư năm 2001, tôi được hãng máy bay Asiana của Ðại Hàn khoản đãi du lịch 1 ngày ở Seoul. Ðây là lần đầu tiên tôi đến Hán Thành. Tôi được đến phi trường Incheon mới khánh thành một tuần trước đó. Ðây là phi trường lớn nhất ở á Châu, khởi công xây từ tám năm trước và sẽ hoàn tất vào năm 2020. Từ phi trường về Thủ đô Hán Thành đi cả tiếng đồng hồ trên xa lộ mỗi bên 5 lanes xe không thua gì xa lộ của Mỹ. Theo lời người hướng dẫn du lịch, nước Ðại Hàn vừa trải qua mùa đông khắc nghiệt nhất với nhiệt độ -20 (âm). Càng ngày càng ít người làm lúa, vì sản xuất các nông sản khác có giá hơn, giá mỗi ký gạo là 2 đô-la và mỗi ký thịt bò là 20 đô-la, mỗi lít xăng là 1 đô 20. Hiện nay mỗi nhà đều có một xe hơi, hầu hết là xe Ðại Hàn như xe Huyndai, Dawoe. Người Ðại Hàn không dùng xe của người Nhật vì kinh nghiệm đau thương của họ đã có với người Nhật. Quân đội Nhật đã chiếm đóng và cai trị hà khắc dân Ðại Hàn suốt 35 năm trước thế chiến 2. Người Ðại Hàn phàn nàn là chính phủ Nhật đã viết lịch sử rất sai trong thời gian thế chiến thứ hai vừa qua. Nhưng người Ðại Hàn ham mê bóng đá và họ đã đồng ý cùng với người Nhật tổ chức World Cup Bóng đá vào năm 2002. Họ đang xây sân vận động chứa được 60,000 người. Tôi được dịp đến thăm Viện Bảo Tàng dân tộc Ðại Hàn, đi ngang qua Nhà Xanh là dinh Tổng Thống và đến thăm cung điện của các Vua Ðại Hàn. Người Nhật đã phá hủy hầu hết cung điện nầy nhưng Chính phủ Ðại Hàn đã xây dựng lại làm nơi tham quan du lịch rất đẹp thu hút dân du lịch khắp thế giới. Thành phố Seoul rất hiện đại, rộng lớn, đường sá xe cộ giống như các nước âu Mỹ. Tôi hỏi người hướng dẫn du lịch về tỷ lệ số tín đồ Tin Lành là bao nhiêu? Câu trả lời là hiện nay 50% người Ðại Hàn đang tin thờ Chúa, đa số là người trẻ và đa số là theo Tin Lành. Phật giáo chỉ còn 30%.

Rời khỏi Ðại Hàn, tôi nhớ đến đất nước Việt Nam. Tôi tự hỏi, "Ðiều gì đã khiến nước Ðại Hàn tiến bộ như ngày nay?" Phải chăng vì 50% dân tộc Ðại Hàn hiện nay đã tin thờ Chúa, theo Tin Lành? 


III. Tìm hiểu lý do người Việt ít theo Tin Lành


Còn dân tộc Việt nam thì sao? Tại sao người Việt Nam ít hưởng ứng với Tin Lành?

Tại sao số tín đồ theo Tin Lành tại Việt Nam thật ít so với các tôn giáo khác và tín hữu người Kinh lại ít hơn nhiều so với tín hữu người Dân tộc? Tôi tìm thấy được vài lý do:

1. Ảnh hưởng của Tam Giáo á Ðông: Người Kinh Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nặng nề của triết lý và tín ngưỡng Tam Giáo á Ðông: Lão Giáo, Khổng Giáo và Phật Giáo. Lão Giáo thì mang đến những phong tục như coi bói, tử vi, coi ngày coi tháng...Khổng Giáo thì mang đến phong tục thờ cúng ông bà, ma chay, thờ tự đình làng, hương hoả, cúng giỗ... Còn Phật Giáo mang đến sự thờ hình tượng, xuất gia đi tu, ăn chay niệm Phật, triết lý sinh tử luân hồi... Ngoài ra những dịp lễ như lễ Vu Lan báo hiếu, Ba Ngày Tết Nguyên Ðán mời ông bà, tiễn ông bà đã trở thành truyền thống, ai cũng làm mình không làm thấy trống trải, thiếu thốn, lạnh lẻo. Nhiều người Việt cứ tiếp thu hết mọi tín ngưỡng khắp nơi truyền đến dù trái ngược nhau vì họ quan niệm đạo nào cũng tốt. Nhiều người khi theo một tôn giáo thì buộc phải giữ lời thề không được bỏ đạo cho đó như là đức tính thủy chung, thay đổi tôn giáo được người đồng đạo cho là phản bội. Thậm chí có một tôn giáo bắt giáo hữu phải thề là nếu bỏ đạo sẽ bị trời tru đất diệt. Những ảnh hưởng nầy cùng với sợi dây gia đình dòng tộc đã quyện vào nhau trói buộc người Việt không thoát ra được để tự do tin thờ Chúa. 

Có nguời còn nhận xét bản tính người Việt Nam hay hoài cổ, ít thích thay đổi và sợ đổi mới, vì thế khi có đạo truyền thống gia đình để lại, họ cứ theo không cần thay đổi. (Ðề nghị xem thêm phần Ảnh Hưởng Các Tôn Giáo á Ðông trong quyển Vấn Ðề Thờ Cúng Tổ Tiên của Hội Dòng Ða-minh Tam Hiệp trang 47-50).

2. Ảnh hưởng của gia đình, dòng họ: Người Việt có sự ràng buộc với gia đình, gia tộc rất mạnh. Cá nhân phải nhường bước trước gia đình và gia tộc. Người theo Khổng Giáo, Phật Giáo và cả người Công Giáo duy trì và phát triển được là qua sợi dây liên lạc gia đình. Sợi dây liên lạc gia đình được củng cố hàng năm qua những buổi hội họp cúng giỗ, những lần chạp mã của gia tộc, những ngày đầu năm rước tiễn ông bà. Một cá nhân tin Chúa dễ bị gia đình và gia tộc chống đối khi cá nhân đó không còn tham gia những lần thờ cúng như thế. Ðây là lý do đủ để người ta kết án người theo Tin Lành bỏ ông bỏ bà. Dĩ nhiên đây là một sự hiểu lầm lớn. Hơn nữa, bản tính của người Việt Nam giống như các nước á Ðông là đặt nặng chữ Tình hơn chữ Lý. Có thể họ biết Tin Lành là chân lý nhưng họ muốn giữ chữ Tình, không muốn mất lòng những thân nhân và bà con dòng họ, vì đó họ sẵn sàng bỏ chữ Lý và cũng đành lòng hy sinh Chân Lý.

3. Quan niệm sống khác nhau giữa Ðông Phương và Tây Phương: 

Ðối với Ðông Phương: Con người là thành viên của Vũ trụ. Ðông phương nghiêng về mặt thích nghi, chung sống hoà bình với thiên nhiên, tạo nên sự hài hoà giữa con người và tự nhiên. Mối tương quan với thiên nhiên biểu lộ rõ trong tín ngưỡng bái vật linh. Hậu quả khoa học kỹ thuật không phát triển. Người Ðông phương nghiêng về tính cộng đồng, sống gắn bó với nhau trong gia đình, làng xã. Tài năng cá nhân không được giải phóng. Tính cộng đồng đưa đến hệ quả là tư duy tổng hợp, quan tâm nhiều đến giá trị tinh thần hơn là giá trị vật chất.

Ðối với Tây Phương: Con người là trung tâm của thế giới. Tây phương thiên về mặt cải tạo thiên nhiên cho phù hợp với con người. Thiên nhiên được sử dụng để phục vụ cho lợi ích của con người. Con người tận dụng những tài nguyên thiên nhiên một cách triệt để để biến nó thành những tiện nghi nhằm nâng cao đời sống con người. Khoa học kỹ thuật vì thế mà phát triển cao. Người Tây Phương nghiêng về cá nhân, nhấn mạnh đến vai trò của cá nhân, khuyến khích cá nhân phát triển cách độc lập, không phụ thuộc vào cộng đồng. Do tính cộng đồng lỏng lẻo và cá nhân được tôn cao mà tài năng con người được giải phóng, xã hội phát triển nhanh. Tính cá nhân đưa đến hệ quả tư duy phân tích, quan tâm nhiều đến giá trị vật chất hơn tinh thần. Nhưng cũng vì đó mà con người Tây phương dễ mắc bệnh cô đơn, còn người Ðông phương thì gặp nhiều phiền toái. 

4. Phương pháp Truyền Giáo: Hội Thánh Tin Lành Việt Nam vẫn chưa tìm được phương pháp truyền bá Tin Lành cho người Việt Nam một cách hữu hiệu phù hợp với tâm lý và truyền thống của người Việt Nam. 

Ở Ðại Hàn, các Hội Thánh Giám Lý và Trưởng Lão đã đi tiên phong trong việc xây dựng trường học các cấp và Bệnh viện nên Hội Thánh đã có ảnh hưởng tích cực lên xã hội Ðại Hàn. Nhờ đó mà nhiều người thuộc giới trí thức và các cấp lãnh đạo đất nước tin thờ Chúa đem lại ảnh hưởng lớn cho Hội Thánh. 


IV- Giải Quyết Vấn Ðề Như Thế Nào?


Ðứng trước sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh giữa bối cảnh văn hóa Việt Nam, Hội Thánh đã làm gì?

1. Giáo Hội Công Giáo Tại Việt Nam

a. Theo tài liệu nghiên cưú "Vấn đề Thờ Kính Tổ Tiên Trong Nền Văn Hoá Ðương Ðại Việt Nam" do Hội Dòng Ða Minh Tam Hiệp xuất bản năm 2000: Người Công Giáo lúc đầu có hai ý kiến khác nhau. Khuynh hướng của đa số các thừa sai Dòng Tên cho việc cúng giỗ tổ tiên của người Việt mang ý nghĩa thuần túy tập quán cổ truyền dân sự. Trong khi đó các thừa sai dòng Ða-Minh và các thừa sai Paris lại cho đó là mê tín. Mỗi bên đều có những lý do riêng và lý do nào cũng có lý.

Các thừa sai Dòng Tên trước khi sang Việt Nam đã từng truyền giáo tại Trung Quốc, họ nắm bắt được khá nhiều bản sắc văn hóa của nền văn minh phương đông lâu đời nầy. Nền văn minh ấy trải rộng sang các vùng lân cận nhất là Việt Nam. Các vị nầy dùng cả nghệ thuật tuồng chèo, ca vãn để diễn tả niềm tin và truyền bá tôn giáo. Lối truyền giáo nầy đã hấp dẫn quần chúng nhất là những người thuộc tầng lớp bình dân, nghèo khổ.

Các vị thừa sai cũng nhận thấy việc cúng vái tổ tiên ở Việt Nam rất quan trọng, cho nên từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18, nhiều vị thừa sai đồng ý để cho những tín đồ Việt Nam tiếp tục cúng bái tổ tiên, và coi đó là những nghi lễ dân sự, không mang ý nghĩa tôn giáo. Các thừa sai chỉ không cho phép cúng cơm và đốt vàng mã.

Bên cạnh các thừa sai Dòng Tên là các vị thừa sai dòng Ða-Minh và thừa sai Paris lại có quan niệm khác hẳn. Họ sắp loại nghi lễ thờ cúng tổ tiên vào số những nghi lễ Trung Hoa (gồm cả việc cúng tế Ðức Khổng Tử). Những nghi lễ ấy khoác cho tổ tiên một chiếc áo tín ngưỡng, thể hiện qua việc thành kính trong cúng giỗ, cầu khẩn ông bà độ trì, mời chào ông bà về chơi, ăn cỗ với con cháu, biếu ông bà chút tiền vàng (đốt vàng mã) để tiêu xài... coi ông bà tổ tiên là những vị thần, có quyền chi phối đời sống sinh hoạt của con người. Ðây là những điều mà các vị thừa sai không thể chấp nhận được. 

b. Năm 1645, Giáo Hoàng Innocentê X ra lệnh cấm không cho thực hành những nghi lễ Trung Hoa đó. Ðến năm 1656, Ðức Giáo Hoàng Alexandre VII lại cho phép vì thấy những nghi lễ ấy chỉ mang tính dân sự... Sau 300 năm cho phép rồi cấm, cấm rồi cho phép, đến ngày 20 tháng 10 năm 1964 thì Toà Thánh lại chấp thuận. Ngày 14 tháng 6 năm 1965 Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam mới ra thông cáo cho phép thi hành. Lý do của những đổi thay nầy là vì Giáo Hội Công Giáo sợ các giáo hữu mê tín dị đoan. Giáo Hội chỉ cấm mê tín dị đoan chứ không cấm báo hiếu tổ tiên. (Xem Thông cáo của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam về việc Tôn kính Tổ Tiên và các Bậc Anh Hùng Liệt Sĩ trang 138-142 trong sách đã dẫn trên).

Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã có công lập chữ Quốc ngữ, xây dựng trường học với sự góp phần tốt đẹp của các Dòng Tu, và gây được thế mạnh trên giới lãnh đạo đất nước. Ðây cũng là lý do Giáo Hội Công Giáo có ảnh hưởng lớn trong xã hội mặc dầu số lượng tín hữu Công Giáo ít hơn so với Phật Giáo.

2. Hội Thánh Tin Lành Việt Nam

Tin Lành được truyền đến Việt Nam do các Giáo sĩ của Hội Truyền Giáo Phước âm Liên Hiệp (Missionary and Christian Alliance) đến từ Hoa Kỳ và Gia-nã-đại. Ngay từ đầu, các Giáo sĩ đã nhấn mạnh đến việc thờ Trời và không thờ lạy một ai khác kể cả ông bà Tổ Tiên. Mọi hình thức cúng kiến, ma chay, vái lạy trong tang lễ hay trong lễ cưới đều bị cấm đoán. Từ đó khắp nơi người Tin Lành đều bị gán cho cái mũ "Tin Lành là đạo Mỹ!" hoặc "Tin Lành bỏ ông bỏ bà!" Từ đó khi một người Việt Nam tin Chúa là lập tức bị gia đình chống đối, cô lập, không cần biết lý do phải tin Chúa được cưú rỗi, mọi lời giải thích và thái độ sống dù tốt mấy cũng đều bị coi thường. Thời gian trôi qua, tiếng đồn đó đã đi vào tiềm thức của người Việt, họ sợ nghe nói đến Tin Lành và không chịu tìm hiểu Tin Lành. 

Ngoài ra, trong xã hội Việt Nam trước 1975, phần nhiều người theo Tin Lành thuộc tầng lớp nghèo, ít người có vai vế quan trọng trong xã hội, vì thế Tin Lành cũng ít có ảnh hưởng tại Việt Nam. Ðến sau 1975, xã hội Việt Nam thay đổi khác, giới cầm quyền chọn chủ nghĩa vô thần làm ý thức chính trị. Vì thế nhiều người sợ theo Tin Lành thì mất việc làm, mất quyền lợi xã hội.

Trong khi đó những dân tộc ít người không bị những ảnh hưởng tín ngưỡng như người Kinh, họ biết thờ Trời là Ðấng Tạo Hoá, họ không theo Khổng Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo, vì thế khi nghe được Tin Lành cưú rỗi nói đến thờ Trời đem lại sự bình an đời nầy và đời sống vĩnh cưủ mai sau là người ta đón nhận dễ dàng. Do đức tin đơn sơ nơi quyền phép Chúa, họ kinh nghiệm được quyền phép biến đổi đời sống từ tối qua sáng, từ dã man tối tăm đến văn minh sáng láng, họ kinh nghiệm được sự nhậm lời cầu nguyện, những trường hợp nhân danh Chúa đuổi quỉ. Ðức Chúa Trời đã ban phước và gìn giữ đức tin của các tín hữu. Nhờ cả gia đình, dòng tộc và cả làng tin Chúa bảo bọc nên đức tin họ được đâm rễ theo thời gian. Dù không có Mục sư và nhà thờ nhưng họ có lòng khao khát nghe lời Chúa qua đài phát thanh hằng ngày, qua sự họp mặt và sinh hoạt cầu nguyện tại các tư gia, họ cũng có những người lãnh đạo thuộc linh là người dân tộc sống gần với họ, chia sẻ những vui buồn với họ, vì thế họ được an ủi và đứng vững trong đạo Chúa. Sự bắt bớ đạo từ phía chính quyền cũng không làm người tín đồ dân tộc nao núng vì đức tin đã trở thành một phần sự sống của họ rồi.


V- Vài Ðề Nghị Về Phương Cách Truyền Giáo Trong Bối Cảnh Văn Hoá Việt Nam


Tôi đồng ý với các ý kiến của Mục sư Lê Hồng Phúc trong bài ôn Năm Cũ Ðón Năm Mới đăng trên Ðặc San Phụ Nữ Báp-tít số 35 Mừng Xuân Tân Thìn gồm năm điểm chính sau đây:

1. Chú tâm đến công tác gieo sự cưú rỗi trước hết. Thay vì bắt lỗi, phê bình về những thói quen cũ của họ như là hút thuốc, uống rượu, nhảy đầm, cờ bạc, thờ cúng, sống chung ngoài hôn nhân, v.v...ta hãy giúp họ học lời Chúa trước. Một tín hữu sau khi được sâu nhiệm Lời Chúa rồi, họ được Thánh Linh cáo trách, tự nhiên sẽ sống đạo tốt, những thói quen cũ sẽ từ từ dẹp bỏ.

2. Chú ý truyền bá đạo Chúa cho những người có nhiều ảnh hưởng nhất (most influencial people). Mỗi Hội Thánh và tín hữu cần chú tâm đến những thành phần trung lưu hay thượng lưu (middle-class hay upper-class) Việt Nam. Ðây là thành phần tri thức, có trình độ, có sự nghiệp ổn định. Ðây cũng là thành phần có uy tín trong gia đình và dòng tộc. Một người trong thành phần nầy tin thì nhiều người khác sẽ tin theo. 

3. Chú tâm đến việc khuyến khích và bảo vệ giá trị gia đình trong cộng đồng Việt Nam. Ðây là truyền thống và giá trị quan trọng đối với người Việt Nam. Hội Thánh cần tổ chức những mục vụ liên hệ đến các gia đình trẻ, thiếu niên và nhi đồng. Ðối với các Hội Thánh hải ngoại như ở Mỹ, Hội Thánh nên dùng song ngữ hoặc chỉ dùng tiếng Anh nói cho các em biết Chúa và kinh nghiệm Ngài, sau đó sẽ giúp chúng trau giồi tiếng Việt. Cần nhớ ở Mỹ, các gia đình trẻ rất cần nơi sinh hoạt tốt cho con em của họ, nhà thờ cần đáp ứng nhu cầu nầy.

4. Kêu gọi tinh thần hợp tác mạnh mẽ và chặt chẽ hơn giữa các hệ phái Tin Lành trong công tác truyền giáo cho đồng bào Việt Nam.

5. Cổ vũ và thực hành mạnh mẽ tinh thần và thói quen cầu nguyện chung thường xuyên với nhau tại nhà thờ mỗi buổi sáng (hoặc mỗi năm tổ chức 40 ngày kiêng ăn cầu nguyện).

Trong phần nầy tôi muốn nhắc đến gương của các Mục sư và tín hữu Hội Thánh Ðại Hàn. Ðề nghị một số người nghiên cưú và phổ biến kinh nghiệm cầu nguyện của Hội Thánh Ðại Hàn.

6. Ngoài ra, tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm bản thân của Hội Thánh điạ phương chúng tôi trong việc truyền giáo:

a. Phổ biến sách đạo như: Tin Mừng Cho Người Việt, Người Việt Với ông Trời, Ðấng Tối Thượng Là Ai?, Ðiều Chỉnh Ðức Tin, Con Ðường Duy Nhất v.v...

b. Phổ biến băng truyền giảng và bồi linh: Tin Mừng Cho Người Việt, Người Việt Với ông Trời, Gặp Chúa Trong Tù Cải Tạo, Thực Chứng Cơ-đốc Giáo v.v...

c. Tặng Sách "Người Ðàn Bà Hạnh Phúc" và các sách "Thực Chứng Tin Lành."

d. Phát Thanh Tin Lành trên Các Ðài Phát Thanh Ðịa Phương, quảng cáo và viết bài đăng báo trên các báo địa phương. 

e. Thâu thập địa chỉ của các thân hữu và đồng hương để gởi sách, băng và mời dự các buổi truyền giảng hàng tháng và các lễ đặc biệt trong năm. Xây dựng mối thông công bạn hữu và gia tộc. Nhấn mạnh mỗi tín hữu là một nhà truyền giáo.

f. Ðề nghị viết và phổ biến nhiều tài liệu sách báo về Biện Giáo, đáp ứng nhu cầu nghiên cưú tìm hiểu của giới tri thức Việt Nam trong thời đại tân tiến nầy. 

g. Phát huy việc phổ biến Tin Lành trên Internet và Email.

h. Hiệu quả nhất là truyền giáo cho thân nhân, bạn bè; tổ chức bữa ăn tại nhà để thảo luận những đề tài mà người ngoại quan tâm; mời thân hữu tham dự các buổi truyền giảng tại nhà thờ; tổ chức các lớp học Kinh Thánh sách Giăng tại gia và mời thân hữu tham dự...

i. Nhấn mạnh đến Tin Lành là Ðạo Thờ Trời.

Xin hãy lắng nghe một nhận định sau đây về người Việt Nam với khái niệm ông Trời: "Ðối với người Việt Nam trồng lúa nước thì sự gắn bó với tự nhiên có từ rất lâu và rất bền chặt. Họ thờ các hiện tượng thiên nhiên có vai trò quan trọng đối với người làm nông nghiệp như Trời - Ðất - Nước. 

Lạy Trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm.

Ðặc biệt là tục thờ Trời. Trời là một từ thuần Việt (chữ nôm) có một vai trò rất quan trọng. Trời đối người Việt không đơn giản chỉ liên quan đến Nông nghiệp, mà Trời còn chi phối tất cả mọi sinh hoạt của thế giới tự nhiên và con người. Trong quan niệm của người Việt, Trời vừa bàng bạc, mênh mang nhưng cũng rất cụ thể. Trời tồn tại trong mọi thứ , ngay cả trong tình cha nghĩa mẹ, nhưng Trời lại cụ thể là một "ông Trời". Giữa hai mặt bàng bạc và cụ thể đó không có một sự phân biệt rõ ràng. Người Việt cũng không đặt nặng vấn đề phải phân biệt điều đó mà họ chỉ biết sống cho trọn đạo Trời, tin rằng ông Trời làm chủ vạn vật, điều khiển mọi hiện tượng tự nhiên.

Nước non là nước non trời
Ai chia được nước ai dời được non.

Trời cũng ảnh hưởng đến đời sống con người, người Việt tin "Trời sinh Trời dưỡng" và "Trời cho ai nấy hưởng" nên không cần phải lo lắng quá, ông Trời luôn giúp người lành. Tuy nhiên, trong cuộc sống với những nghịch lý, những bất công xã hội, những bất bình đẳng tồn tại khiến họ nhiều khi cũng phải ca cẩm ông Trời:

Trời ơi! Trời ở chẳng cân
Người ăn không hết, người mần không ra
Người thì mớ bảy mớ ba
Người thì áo rách như là áo tơi.

Người Việt ai cũng tin Trời, thờ Trời, coi Trời ở trên hết các vị thần nhưng lại rất gần gũi với người. Trời là nguồn cội của loài người."

Mặc dầu khái niệm về ông Trời như nhận định trên đây là chưa đầy đủ, nhưng khi nói đến việc thờ Trời thì người Việt ai cũng đồng ý. Vấn đề của người Tin Lành là làm sao liên kết hình ảnh trong sáng về ông Trời với Ðức Chúa Trời là Ðấng yêu thương nhân loại đến nỗi đã ban Con Một Ngài là Chúa Giê-xu để đền tội cho loài người, hầu cho hễ ai tin thờ Ngài thì được Ngài tha tội và hưởng sự sống đời đời.

j. Nhấn mạnh đến mạng lịnh hiếu kính cha mẹ của Chúa trong Kinh Thánh.

Nhiều người Việt không biết sự hiếu kính cha mẹ vừa là một điều răn vừa là một lời hứa của Chúa: "Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất." Chúa Giê-xu và các sứ đồ nêu gương và dạy dỗ về sự hiếu kính cha mẹ cách thực tế. Hãy dùng Kinh Thánh chỉ rõ cho tân tín hữu và luôn nhắc nhỡ tín hữu thực sự hiếu kính cha mẹ khi các vị còn sống, ngay cả những vị không chịu tin Chúa.

Tin Lành là tôn giáo duy nhất có Kinh Thánh với mạng lịnh hiếu kính cha mẹ được đưa lên thành một trong mười điều răn và là mạng lịnh đầu tiên trong quan hệ giữa người với người. 

k. Nhấn mạnh đến việc truyền giáo cho thân nhân qua mối liên hệ gia đình và gia tộc.

Ðây là kinh nghiệm có kết quả tốt của Gia Ðình Ðức Tin Việt Nam tại Việt Nam.

l. Giải toả quan niệm cho rằng Ðạo nào cũng tốt.

Ngoài ra để giải toả sự hiểu lầm của người Việt khi cho rằng đạo nào cũng tốt, đường nào cũng dẫn đến thiên đàng, người tin Chuá cần thiết nhấn mạnh đến Nan đề Duy Nhất của loài người là tội lỗi và chết mất đồng thời nhấn mạnh Giải pháp Duy Nhất của Ðức Chúa Trời là sự chết đền tội và sự sống lại của Chúa Cưú Thế Giê-xu. 

m. Nhấn mạnh Chúa Giê-xu là con đường duy nhất dẫn đến ông Trời. Xem bài giảng Con Ðường Duy Nhất của Mục sư Nguyễn Văn Huệ.


VI. Ðồng Ruộng Ðã Chín Vàng


Phao-lô đã nói đến việc phải lo rao giảng Tin Lành dù hợp thời hay không hợp thời. Tình hình Việt Nam vẫn còn khá hơn so với tình hình ở các nước theo Hồi Giáo khi mọi người bị buộc phải theo Hồi Giáo, nếu không sẽ bị bắt bớ. Ở nhiều nước Hồi Giáo, nếu một người tin theo Chúa có thể bị xử tử hình. 

Khi suy nghĩ đến hiện tình công việc Chúa ở Việt Nam, tôi nhớ đến lời Chúa trong Giăng 4 khi Chúa Giê-xu phá vỡ hết mọi hàng rào ngăn cách về phái tính, chủng tộc, biên giới, bất tiện, hiểu lầm v.v... để truyền giáo cho dân tộc Sa-ma-ri. Ngài nói với các môn đồ về một khải tượng cánh đồng truyền giáo đang mở rộng trước mắt. Khải tượng về cánh đồng truyền giáo Việt Nam đang mở ra trước mắt chúng ta. Công việc Chúa thật lớn. Một người hay một Hội Thánh làm không xong. Nhưng chúng ta có lời hứa quí báu từ Chúa. Chúa Giê-xu phán: Vì đây người ta có thể nói rằng: Người nầy thì gieo, người kia thì gặt, là rất phải. Ta đã sai các người gặt nơi mình không làm, kẻ khác đã làm, còn các người thì đã vào tiếp lấy công lao của họ.

Nếu chúng ta chưa gặt thì chúng ta đang gieo. Nếu chúng ta đang gieo thì có người khác sẽ gặt. Người Tin Lành hải ngoại cần tỉnh thức và hiệp tác với nhau để truyền giáo cho đồng bào hải ngoại và đồng thời góp phần truyền giáo cho quê hương.

Có nhiều người Sa-ma-ri ở thành Si-kha tin Chúa vì lời làm chứng của người đàn bà Sa-ma-ri. Ðó là điều khích lệ chúng ta là người làm chứng về Chúa. Cũng có nhiều người khác tin Chúa vì kinh nghiệm gặp Chúa trực tiếp và nghe lời giảng của chính Chúa Giê-xu. "Khi đã nghe lời Ngài rồi, số người tin Chúa càng đông hơn nữa." Ðiều chúng ta cần làm là nói cho mọi người Việt Nam biết chính Chúa Giê-xu là Chúa Cưú Thế, "chính Ngài thật là Cưú Chúa của thế gian." 

Tôi muốn trở lại với câu hỏi: Ðiều gì đã khiến nước Ðại Hàn tiến bộ như ngày nay? Câu trả lời là hiện nay 50% người Ðại Hàn đang tin thờ Chúa, đa số là Tin Lành. Phật giáo chỉ còn 30%. Quí vị và các bạn có muốn đất nước và dân tộc Việt Nam mai đây được như Ðại Hàn không? Câu trả lời nằm ở chỗ mỗi người chia sẻ khải tượng của Chúa Giê-xu: Hãy nhướng mắt lên mà xem cánh đồng Việt Nam đã vàng sẵn cho mùa gặt.