Khi một người nói “tôi là một tín hữu Cơ-Đốc,” hay nói một cách nôm na “tôi là người Tin Lành” điều đó có nghĩa gì? Điều đó có nghĩa là người đó đặt chính mình dưới sự hướng dẫn tuyệt đối của Chúa Giê-Xu Cơ-Đốc và sống trong mẫu mực hay nguyên tắc sống của Ngài.
Chúng ta không thể nhận mình là con cái của Chúa mà không sống theo ý Ngài và trở nên giống như Ngài, vi cớ “đức tin không có việc làm là đức tin chết.” (Gia-cơ 5:5).
Để trở nên một con cái của Chúa trước hết người đó phải nhận thức tội lỗi của mình (tội là trật mất mục-tiêu của đời sống), ăn năn để nhận sự tha thứ trong huyết của Chúa và chuyển hướng cuộc đời để dưới sự hướng dẫn của Chúa. Sự quay đầu, hay chuyển hướng (conversion) nầy không phải là cuối cùng nhưng đó chỉ mới là khởi đầu của cuộc đời theo Chúa. Vì cớ những gì xảy ra trong cuộc đời của người theo Chúa tù giờ phút ấy mới quan trọng chớ không phải hành động quay đầu dầu đó là khởi đầu cần thiết. “Tái sanh” để sống, lớn lên và phục vu. Người con trai hoang đàng trở về nhà để sống trong mái ấm gia đình và nguyên tắc đã được người cha qui định và gây dựng.
Thế thì, Chúa Cứu Thế Giê-Xu đã dạy gì, chúng ta là những người nhận mình là con cái của Chúa phải sống như thế nào và điều đó ảnh hưởng đến dân tộc của chúng ta như thế nào?
I.- Chúa Cứu Thế Giê-Xu đã dạy gì về sự sống đạo?
Chúa dạy rất nhiều điều nhưng tóm lại “kính Chúa, yêu người” là điều bao gồm tất cả (Ma-thi-ơ 23: 36- 40).
Thờ một mình Đức Chúa Trời là điều Ngài dạy qua bài giảng trên núi “Vì nước, quyền, vinh hiển dều thuộc về Cha đời đời” (Ma 6: 13), “Trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài” (Ma 6:33) và Ngài đã thể hiện trong nếp sống của chính mình trong khi bị cám dỗ Ngài đã nói với ma-quỉ “người chỉ thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (Ma 4:10) cũng như trong giờ đau đớn nhất Ngài đã phó thác hết mọi sự theo ý Chúa Cha “Song không theo ý muốn con, mà theo ý muốn Cha” (Ma 26:39, 42).
Ngài đã dạy và hành động để tôn cao Đức Chúa Trời lên trên hết trong mọi khía cạnh của nếp sống của mình. Ngài đã coi tất cả những sinh hoạt của cuộc đời mình là để làm vinh hiển danh Chúa Cha: “Con đã tôn vinh Cha trên đất, làm xong công việc Cha giao cho làm” (Giăng 17:4)
Nhưng yêu Chúa thì phải yêu người. Yêu người là dấu hiệu của người yêu Chúa.
Yêu người khác, sống vì người khác là hành động duy nhất để đạt được sứ mạng mà Chúa Cha giao phó. Lu-ca đã ký thuật lại sự việc Chúa đọc lời của tiên-tri ê-sai tại nhà hội thành Na-xa-rét “Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên ta, vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng giảng tin mừng cho người nghèo. Ngài đã sai ta để rao kẻ bị tù được tha, và cho người mù được sáng, kẻ bị áp bức được tự do, và để đồn ra năm lành của Chúa.” Và Ngài đã nói rằng hôm nay lời tiên tri nầy đựoc ứng nghiệm (Lu 4:21).
Vai trò của người nghèo trong Kinh Thánh đáng được cho chúng ta để ý. Các sách Phúc âm chẳng những nói về cảnh nghèo khó trong cuộc đời của cá nhân Chúa Giê-Xu, nhưng cũng nhấn mạnh đến công tác phục vụ của Ngài đối với những kẻ bị xã hội ruồng bo ủ và quên lãng. Trong điểm nầy, các sách Phúc âm đã xác nhận lời của thánh Phao-lô về Chúa Cứu-Thế Giê-Xu “Ngài vốn giàu, nhưng vì chúng ta Ngài đã tự trở nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài chúng ta được trở nên giàu.” (II Cô 8:9). Nét đặc thù nầy trong cuộc đời và chức vụ của Chúa Giê-Xu đã phù hợp với sự dạy dỗ trong Cựu Ước về trách nhiệm xã hội, trong đó người nghèo được đặt trong một vị thế đặc biệt. Đó là nền tảng cho các chương trình giúp người nghèo trong Hội Thánh đầu tiên. Trong Tin Lành theo Thánh Lu-ca, lời Chúa còn đi xa hơn nữa và hầu như nói rằng những người nghèo là những người sẽ thừa hưởng nước Đức Chúa Trời: “Phước cho các ngươi là những kẻ nghèo, vì nước Đức Chúa Trời thuộc về các ngươi.” (Lu 6:21).
Chúa còn cột chặc trách nhiệm đối với những người nghèo, người bị áp bức và ruồng bỏ vào trong tương quan trách nhiệm đối với Đức Chúa Trời và điều kiện để vào nước thiên đàng:
“Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra; để chiên bên hữu và dê ở bên tả. Bấy giờ, vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng: Hỡi những kẻ được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất. Vì ta đói, các ngươi đã cho ta ăn; ta khát, các ngươi đã cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta; ta trần truồng, các ngươi mặc cho ta; ta đau, các ngươi thăm ta; ta bị tù, các ngươi đã viếng ta. Lúc ấy, người công bình sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho ăn; hoặc khát, mà cho uống? Lại khi nào chúng tôi đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà mặc cho? Hay là khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đau, hoặc bị tù, mà thăm viếng Chúa? Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những kẻ hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy.” (Ma 25:31-40)
Chúa Giê-Xu cũng nói trong Ma 7:21 “Chẳng phải hễ kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên-đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi.”
Điều đó cho chúng ta thấy rằng yêu Chúa, thờ phượng Chúa được bày tỏ ra trong trách nhiệm với người khác. Đây là đức tin toàn diện, đức tin có việc làm. Đây là Tin Lành trọn vẹn,Tin Mừng trong mối tương quan giữa cá nhân với Chúa cũng như giữa cá nhân đối với người khác. Nói một cách khác, sống đạo là sống cho Chúa, sống cho Chúa là sống cho người khác và sống cho nguòi khác thì làm sáng danh Chúa. “Sự sáng của các ngươi hãy soi truóc mặt người ta như vậy đặng họ thấy những việc lành của các ngươi và ngợi khen Cha của các ngươi ở trên trời.” (Ma 5:16).
II.- Sống đạo giữa dân tộc Việt Nam trong quá khứ
Nói rằng tín hữu Tin Lành Việt Nam không sống đạo, thì điều đó thật sự không đúng. Tuy nhiên, sự sống đạo của các con cái chúa người Việt Nam thường giới hạn trong chiều kích cá nhân, có nghĩa là cầu nguyện, đọc kinh thánh, không uống rượu, không hút thuốc, không bài bạc... mà thôi. Sự giúp đỡ người khác thường giới hạn giữa cá nhân với cá nhân hơn là nổ lực của một cộng đoàn con dân Chúa.
Tình trạng nầy, theo thiển ý, có thể phát xuất ra bởi vài lý do.
Lý do thứ nhất, có thể là con cái chúa người Việt là thiểu số so với cộng đồng bên ngoài Hội Thánh cho nên cảm thâý không đủ năng lực để ảnh hưởng những nhu cầu to lớn của xã hội.
Lý do thứ hai, có thể là chính con cái chúa người Việt đa số ơ trong thành phần cần sự lưu ý của người khác hơn là lưu ý đến người khác. Họ đến với Chúa, đến với Hội Thánh vì chính họ là những người nghèo, cùng khốn và kết quả có thể tâm linh họ được an ủi nhưng khả năng vật chất của họ cũng không thay đổi bao nhiêu. Nói một cách khác, họ được các giáo-sĩ đem bánh đến cho, họ vào Hội Thánh để tiếp tục được nhận bánh.
Lý do thứ ba, có thể là yếu tố quan trọng nhất, đó chính là quan điểm về Tin Lành của các giáo hội và giáo sĩ vào cuối thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ 20. Trong thời đó, lúc mà các phong trào truyền giáo được khởi sắc nhất, thì tại Hoa Kỳ có sự phân rẻ trầm trọng các khuynh hướng tư tưởng Tin Lành. Tôi xin xác định rõ ở đây chữ Tin Lành ở đây là Tin Mừng (Good News) chớ không phải là Hội Thánh Tin Lành.
Khuynh hướng thứ nhất là Tin Lành Xã Hội (Social Gospel) do Washington Gladden (1936- 1918), Mục-sư Hội Thánh First Congregational Church tại Columbus,Ohio, và Walter Rauschenbusch, Mục-sư Hội Thánh Second Baptist Church tại NewYork khởi xướng. Chủ trương của phong trào Tin Lành Xã Hội đã được Federal Council of the Churches of Christ in America phổ biến trong bản Tín Điều Xã Hội của Hội Thánh (the Social Creed of the Churches) trong đó đã chủ trương bãi bỏ việc xử dụng sức lao động của trẻ em, cải thiện môi trường làm việc của phụ nữ, quyền có một ngày nghỉ trong tuần và quyền lương tối thiểu cho công nhân. Phong trào nầy được xem là chủ trương Tân Phái trong Hội Thánh Tin Lành (Liberal Protestantism) vì đặt lại một vài vấn đề then chốt mà truyền thống niềm tin của Cơ-Đốc. Phong trào áp dụng những nguyên tắc Thánh Kinh vào trong việc kỷ nghệ hoá và đã ảnh hưởng rất nhiều đến luật lệ liên quan đến xã hội của Hoa Kỳ nhất là New Deal năm 1930.
Thứ hai là phong trào Phấn Hưng (Revivalism) của thế kỷ 19 với chủ trương truyền giáo và có khuynh hướng tách khỏi các Hội Thánh Tin Lành truyền thống để lập những nhóm, hội khác. Những nhóm nầy hầu như dùng những tín hữu để giảng đạo và chú trọng đến việc cứu rỗi cá nhân hơn là mối liên hệ đối với Hội Thánh và cộng đồng chung. Cho nên trong thế kỷ 19 đã phát sinh ra một số nhóm và Hội Thánh quan trọng, và nhiều nhóm đã liên hệ đến giáo lý tái lâm của Chúa. Chúng ta có thể kể: Cơ-Đốc Phục Lâm sáng lập bởi William Miller (1782- 1848); Mormons sáng lập bởi Joseph Smith (1805- 1844); Christian Scientists, do Mary Baker Eddy sáng lập (1821- 1910). Những Hội Thánh nhấn mạnh đến sự thánh khiết phát xuất từ phong trào Giám-Lý (Methodism), và các Hội Thánh Ngũ Tuần, các nhóm nói tiếng lạ. Trong bối cảnh đó một phong trào truyền giáo được sáng lập bởi Tấn Sĩ Albert B. Simpson vào năm 1887 để vận dụng lực lượng tín hữu và nguồn tài nguyên của các Hội Thánh để “đem toàn quyển Kinh Thánh cho toàn thế giớI” (take the whole Bible to the whole world). Chính phong trào C&MA nầy đã được hiệp ước của các Hội Truyền Giáo phân chia vùng hoạt động chịu trách nhiệm truyêụn giáo tại Việt, Miên và Lào. Trong ảnh hưởng của các khuynh hướng thời nầy, hội C&MA chủ trương và chú trọng đến sự cứu rỗi linh hồn của cá nhân, sự thánh khiết của cá nhân và mong đợi ngày Chúa tái lâm. Các hoạt động có tính cách xã hội khác trong Hội Thánh Việt Nam trong bấy giờ tùy thuộc vào sự yểm trợ của hội Mennonite, World Council of Churches...
Hai khuynh hướng rõ rệt về Tin Lành trên đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau. Một nhóm chú trọng đến việc đáp ứng các nhu cầu xã hội trong quốc nội và đã chịu trách nhiệm phần lớn sự phát triển của nước Mỹ hiện nay. Một nhóm thì đẩy mạnh truyền giáo tại quốc ngoại và có công phần lớn đem Tin Lành đến cho những nước có Tin Lành vào hậu thế kỷ 19 và thế kỷ 20.
III.- Sống đạo giữa dân tộc Việt Nam trong hiện tại và tương lai
Gần đây thì các hầu như Hội Thánh trên thế giới đều thấy sự khiếm khuyết của từng quan điểm Thần Học và cố gắng dung hoà. Điều nầy có thể thấy trong các hội nghị truyền giáo World Congress on Evangelism tai Berlin năm 1966, the International Congress on World Evangelization in Lausanne tại Pattaya in 1980. Các khuynh hướng liên hiệp (ecumenical) đã nói lên trong hội nghị Conference on Renewal in Mission tại Uppsala năm 1968; Salvation Today tại Bangkok năm 1973; Holistic Mission tại Nairobi năm 1975; and the Kingdom Perspective tại Melbourne năm 1980. Tât cả đều nhấn mạnh đến sự cứu rỗi linh hồn và trách nhiệm xã hội của Hội Thánh trong việc truyền giáo.
Với cái nhìn toàn diện hơn về sống đạo ngày nay qua sự sự hiểu biết hơn về ý nghĩa của Tin Lành qua Thánh Kinh chúng ta hãy nhìn vào thực trạng của dân tộc của chúng ta tại quê nhà.
Việt nam vẫn còn là một trong những nước nghèo nhất thế giới với lợi tức trung bình $370.00USD mỗi người (GNP per capita). Nếu chúng ta về thăm Việt Nam và chỉ ở trong những thành phố có lẽ chúng ta không thấy cảnh nghèo. Nhưng đi về miền quê hẻo lánh hơn, nhiều người chỉ cầu mong miếng cơm hằng ngày. Họ không nhìn xa hơn ngày hôm nay, và cuộc đời họ đi lanh quanh trong cái khó đó, không có đường thoát.
Cái nghèo đã đưa đến nhiều tệ trạng xã hội. Không cần phải tìm xa, lật tờ báo như Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Thanh Niên... đều đề cập đến những nan đề như trộm cướp, mãi dâm, thất học...
Nhà nước Việt Nam, trên chính sách, rất quan tâm đến việc giải quyết nghèo đói và giải quyết các nan đề xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế không thể làm nỗi. Điều nầy không phải lạ gì đối với chúng ta là những người tin Chuá. Phao-lô đã nói trong Rô-ma 7:15- “Vì tôi không hiểu điều mình làm: tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét, Song nếu tôi làm điều mình chẳng muốn, thì bởi đó nhận biết luật pháp là tốt lành. Bấy giờ chẳng phải là tôi làm điều đó nữa, nhưng ấy là tội lỗi ở trong tôi.”
Nói một cách khác, triết lý Cộng Sản và triết lý Cơ-Đốc khác nhau trong căn bản nhận thức về bản chất của con người. Cộng Sản cho rằng con người tốt có thể làm việc lành. Cơ-Đốc giáo cho rằng con người tội lỗi không thể làm việc lành họ muốn được, con người cần sự cứu rỗi bởi ân điển.
Thực tế ngày nay các công tác từ thiện giúp giải quyết các nan đề nghèo đói và tệ trạng xã hội tại Việt Nam hầu hết đến từ các nhóm, các tổ chức Tin Lành hay ảnh hưởng Tin Lành.
Là những người Cơ-Đốc Việt Nam chúng ta cần phải sống để phản ánh niềm tin của chúng ta nơi Chúa giữa vòng dân tộc nghèo đói của chúng ta. Chúng ta phải gánh trách nhiệm nầy trước những người ngoại quốc vì người Việt Nam là người nhà, là anh em là người lân cận của chúng ta. Chúng ta phải nhận lãnh công việc trước khi chúng ta nhờ đến người khác.
Thực lực của người tín hữu Việt Nam ở hải ngoại không phải là nhỏ. Tuy nhiên chúng ta chưa có cùng một ý thức trách nhiệm, chưa có mục tiêu rõ rệt và cũng chưa có một kế hoạch cho cuộc truyền giáo cho nên tài nguyên chưa được xử dụng tốt đa để đạt hiệu quả tốt nhất. Thí dụ vấn đề được đặt ra là việc xây nhà thờ quan trọng hơn hay là nâng cao đời sống kinh tế của con cái Chúa trong Hội Thánh, vấn đề phát thực phẩm quan trọng hơn hay là vấn đề huấn nghệ... Tuỳ theo thứ tự ưu tiên của vấn đề mà chúng ta xử dụng tài chánh như thế nào.
Một trở ngại khác là nổ lực truyền giáo cho Việt Nam của các cá nhân và tổ chức Tin Lành rất rời rạc làm mất đi hiệu lực và hao tốn nhiều. Ví dụ có những nơi nhận được rất nhiều nhưng có những nơi khác đồng bào bị bỏ quên.
Trở ngại lớn nhất có thể nói là thái độ của đảng và nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo và đặc biệt với các tổ chức xã hội. Họ muốn độc quyền và sợ bị ảnh hưởng. Một số các vấn đề khác rất tế nhị tôi muốn dành cho giờ thảo luận sau nầy.
Trong giới hạn của thì giờ của buổi nói chuyện hôm nay tôi xin đề nghị vài điểm:
- Mỗi người cần kiểm điểm lại đức tin của mình. Tái sinh là điều quan trọng để nhìn cuộc đời theo nhãn quan của Chúa.
- Sống đạo trong nếp sống cá nhân theo gương của người Sa-ma-ri nhơn lành.
- Sống đạo trong nếp sống tập thể theo gương mẫu của các Hội Thánh đầu tiên như Giê-ru-sa-lem (Công vụ 6), Cô-rinh-tô (I Cô 16) hay Ma-xê-đoan (II Cô 8).
- Sốt sắng đem Tin Mừng của Chúa đến cho người nghèo, người cô thế như những mục-đồng tại Bết-lê-hem, nhưng cũng đừng quên những người giàu, quyền thế như Ni-cô-đem hoặc Xa-chê. Chúa yêu tất cả mọi người.
- Sự thay đổi của cá nhân sẽ ảnh hưởng đến sự thay đổi của hệ thống và sự thay đổi của hệ thống ảnh hưởng đến nếp sống cá nhân. Sự tham dự trong những nổ lực ảnh hưởng đến hệ thống cũng rất quan trọng trong nếp sống theo Chúa như hoàng hậu ê-xơ-tê trong triều vua A-suê-ru (ê-xơ-tê 2) hoặc Nê-hê-mi trong triều vua At-ta-xét-xe (Nê 2)
Sống đạo không phải là gì mới thêm cho đức tin. Sống đạo là đức tin. Để kết thúc bài chia xẻ nầy tôi xin muợn lời của của thánh Gia-Cơ để định nghĩa đức tin: “Sự tin đạo thanh sạch không vết trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta là: Thăm viếng kẻ mồ côi, người goá bụa trong cơn khốn khó của họ, và giữ lấy mình cho khỏi sự ô uế của thế gian.” (Gia-cơ 1:27)
Tác Giả: Mục Sư Nguyễn Xuân Sơn
















